Tag

lqp; nct;

Chia sẻ

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MẬT ĐỘ NUÔI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ BÌNH TÍCH (Poecilia latipinna) Ở GIAI ĐOẠN GIỐNG

24-10-2017

EFFECT OF STOCKING DENSITIES ON THE GROWTH AND SURVIVAL RATE OF SAILFIN MOLLY (Poecilia latipinna) AT INGERLING STAGE

LÊ QUỐC PHONG *

NGUYỄN CÔNG TRÁNG**

TÓM TẮT

Nghiên cứu được thực hiện với 4 nghiệm thức (NT1 (600 con/m2), NT2 800 (con/m2), NT3 1.000 (con/m2), NT4 1.200 (con/m2)) nhằm tìm ra mật độ nuôi thích hợp cho cá bình tích (0,18-0,19g) ở giai đoạn giống. Thí nghiệm được nghiên cứu trên 16 bể nhựa 90 lít/bể (79 x 49 x 41cm). Cá thí nghiệm được cho ăn 2 lần/ngày với thức ăn là trứng nước (Moina sp) trong 2 tuần đầu, sau đó cá được cho ăn thức ăn viên (42% đạm) trong suốt thời gian thí nghiệm còn lại. Sau 8 tuần thí nghiệm, kết quả cho thấy rằng tăng trưởng của cá (tăng trưởng về khối lượng (WG) và chiều dài (LG); tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng (DWG) và chiều dài (DLG)) ở nghiệm thức NT1 đạt cao nhất (WG = 0,43g, DWG = 0,008g/ngày; LG = 0,90cm, DLG = 0,016cm/ngày) và có xu hướng giảm khi tăng mật độ nuôi từ 600 con/m2 đến 1200 con/m2(p<0,05). Tỷ lệ sống của cá thì khác biệt rất đáng kể giữa các nghiệm thức (p<0,05). Chi phí thức ăn có xu hướng tăng khi tăng mật độ nuôi (p<0,05), cá nuôi ở nghiệm thức NT1 đạt chi phí thức ăn thấp nhất và cao nhất là nghiệm thức NT4. Như vậy, mật độ nuôi cá bình tích thích hợp nhất là 600 con/m2 để đảm bảo tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và hiệu quả kinh tế.

Từ khóa: mật độ nuôi, Poecilia latipinna, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống.

ABSTRACT

The research was conducted with four treatments including (NT1 (600 fish/m2), NT2 800 (fish/m2), NT3 1000 (fish/m2) and NT4 1.200 (fish/m2)) in order to identify the most suitable density for culturing the sailfin molly (initial weight of 0,18 - 0,19g/fish) at fingerling stage. The experiment was studied in 16 ninety-liter plastic tanks (70 x 49 x 41cm). The experimental fish were fed twice a day with water fleas (Moina sp) during the first two weeks and then with commercial pellets (42% of protein) during the rest experimental time. After 8 experimental weeks, the result showed that the highest growth rate (weight gain (WG), length gain (LG), daily weight gain (DWG) and daily length gain (DLG)) was observed at the NT1 treatment (WG = 0,43g, DWG = 0,008g/day; LG = 0,90cm, DLG = 0,016cm/day) and the growth rate tended to decrease as the stocking density increased from 600 fish/m2 to 1200 fish/m2 (p<0,05). There were significant differences in the survival rate among treatments (p<0,05). The feed cost tended to increase as the stocking density increased (p<0,05). The fish cultured at the NT1 treatment required the lowest feed cost and the highest feed cost was showed at the NT4 treatment. In conclusion, the most suitable density for culturing the sailfin molly should be 600 fish/m2 to guarantee the growth rate, survival rate and economic efficiency.

Keywords: stocking density, Poecilia latipinna, growth rate, survival rate.

 

* ** Khoa Nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm, Trường Đại học Tiền Giang.

Phòng Quản lý khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế