Tag

;

Chia sẻ

Phật giáo Nam tông dưới góc nhìn ngôi chùa Khmer ở Đồng bằng Sông Cửu Long

07-03-2018

TS. Lê Thị Son

TÓM TẮT

Khi nói đến văn hóa Khmer, chúng ta không thể không nhắc đến ngôi chùa Khmer với lối kiến trúc độc đáo mang triết lý Phật giáo sâu xa và vai trò của nó trong đời sống của người Khmer. Đối với người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, ngôi chùa có vai trò quan trọng trong đời sống của họ. Có thể nói, người Khmer từ lúc sinh ra cho đến khi trưởng thành, rồi về già và cho đến lúc chết, mọi buồn vui của cuộc đời đều gắn bó với ngôi chùa. Đây không chỉ là nơi tổ chức những ngày lễ hội Phật giáo thuần túy mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa, xã hội của đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, tạo nên nét đẹp đặc sắc của văn hóa Khmer nói riêng, của văn hóa Việt Nam nói chung.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trên mọi miền đất nước, hình ảnh ngôi chùa đã trở nên thân quen với tất cả mọi người. Ngôi chùa thể hiện thế giới quan và triết lý nhân sinh của Phật giáo. Mặc dù bước đường du nhập của Phật giáo trải qua nhiều khúc quanh trong lịch sử nhưng ngôi chùa vẫn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam nói chung và của cộng đồng cư dân Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long nói riêng. Hầu hết người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long theo đạo Phật. Phật giáo Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay là Phật giáo Nam tông, hệ phái Tiểu thừa (Hynayana), còn gọi là Phật giáo nguyên thủy (Theravada). Thiết nghĩ, việc tìm hiểu triết lý Phật giáo Nam tông thông qua việc nghiên cứu ngôi chùa Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long nhằm hiểu thêm về đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Khmer là việc làm cần thiết và có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay.

 Trong bài này, thông qua việc nghiên cứu ngôi chùa Khmer và nét sinh hoạt văn hoá tại chùa, tác giả muốn chuyển tải đến người đọc triết lý Phật giáo Nam tông Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long. Hy vọng bài báo này sẽ góp phần tôn vinh nét đẹp văn hóa Khmer nói riêng, của văn hóa Việt Nam nói chung; và có thể là tư liệu tham khảo cho giảng viên và sinh viên trong việc dạy và học môn Văn hóa học, Tôn giáo học....

2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1. Khái lược về lịch sử tộc người và quá trình tiếp nhận, phát triển Phật giáo Nam tông của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

Có thể nói, người Khmer hiện diện trên vùng đất đồng bằng sông Cửu Long sớm nhất là từ cuối thế kỷ XIII đến đầu thế kỷ XIV và có thể xem họ cùng tộc người với người Khmer ở Campuchia. Người Khmer có nguồn gốc từ phía Tây Bắc Campuchia, là tộc người thuộc hệ ngôn ngữ Môn – Khmer, một tộc người đa số của vương quốc Chân Lạp. Vào khoảng thế kỷ XIII, sau sự hưng thịnh của vương triều Angkor, đế quốc Chân Lạp bước vào thời kỳ suy yếu bởi những cuộc tranh chấp bên trong nội bộ và sự đe dọa của phong kiến Xiêm La láng giềng. Trong tình trạng rối ren đó, một bộ phận người Khmer đã rời bỏ vùng phía Bắc, theo sông Mê Kông tiến dần xuống hạ lưu châu thổ, tức vùng đồng bằng sông Cửu Long thuộc Nam bộ ngày nay để tìm đất sống. Họ đã trốn chạy khỏi ách áp bức, bóc lột của các thế lực phong kiến Chân Lạp đương thời.

Trước khi di cư đến vùng đất đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, người Khmer đã tiếp nhận Phật giáo Nam tông được truyền từ Ấn Độ qua nhiều con đường khác nhau. Con đường truyền bá Phật giáo Nam tông từ phía Nam Ấn Độ qua Sri Lanka và các quốc gia Nam Á, Đông Nam Á đến người Khmer ở vương quốc Chân Lạp vào khoảng thế kỷ X – XI, để rồi từ đó đi cùng với di dân Khmer đến đồng bằng sông Cửu Long vào cuối thế kỷ XIII đến đầu thế kỷ XIV.

Theo lời truyền lại của các sư sãi, nhiều ngôi chùa Phật giáo của người Khmer được xây dựng từ thế kỷ XV. Từ thế kỷ XVI – XVII, Phật giáo Nam tông đã có vị trí quan trọng trong đời sống tôn giáo của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long. Đến thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, đại bộ phận các phum (xóm), sóc (nhiều xóm hợp thành) của người Khmer đều có chùa thờ Phật. Tính đến tháng 6/2010, Phật giáo Nam tông Khmer đã có 452 ngôi chùa với 8.574 vị sư (=19,3% tổng số sư trong cả nước) [1], tập trung chủ yếu ở 9 tỉnh (thành phố) đồng bằng sông Cửu Long (Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau).

Xuất phát từ triết lý: cuộc sống chỉ là tạm bợ, về với Phật mới là vĩnh hằng. Do đó, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long quan niệm: góp công sức, tiền của xây chùa là một cách tích lũy công đức cho mai sau. Có thể nói, ngôi chùa là niềm tự hào của người Khmer trong sóc; họ mong muốn ngôi chùa của sóc mình được khang trang, đẹp đẽ không thua kém gì sóc khác. Vì vậy, người Khmer chăm lo ngôi chùa nhiều hơn chăm lo ngôi nhà của mình. (Chính sách xoá đói giảm nghèo đối với người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long phải hết sức quan tâm đến hệ quả này).

Như chúng ta đã biết, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng chính của ba luồng văn hóa là: tín ngưỡng dân gian, Bà la môn giáo và Phật giáo. Ba nền văn hóa này là chỗ dựa tinh thần, nó luôn tồn tại, giao hòa với nhau như những dòng nước sông suối và chi phối đời sống tinh thần người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long. Vượt qua không gian và thời gian, cùng với đầu óc không ngừng sáng tạo, bàn tay khéo léo tài ba của nghệ nhân đã sản sinh ra một nền văn hóa đặc sắc đậm chất Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long. Điều này chúng ta sẽ thấy rõ trong nghệ thuật kiến trúc chùa Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long.

2.2. Nghệ thuật kiến trúc chùa Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

Chùa Khmer được xây dựng ở khu vực trung tâm của sóc, nơi đất cao ráo, rộng rãi và có nhiều cây cổ thụ. Chùa Khmer là một quần thể kiến trúc với nhiều công trình có nhiều hoa văn trang trí. Mỗi công trình kiến trúc đều hàm chứa những ý nghĩa triết lý Phật giáo sâu xa, tiêu biểu như sau:

 

Chùa Khleáng (Sóc Trăng)

 

   - Cổng chùa: Mỗi chùa thường có một hoặc hai cổng. Tùy theo từng chùa, từng địa phương, có những cổng chùa có một, ba hoặc năm ngọn tháp. Những ngọn tháp phía trên thường có hình búp sen hoặc hình chuông được cách điệu từ hình ảnh bát úp đặt trên bậc tam cấp tượng trưng cho tam cõi đức Phật, nói lên tinh thần giản dị, cuộc sống đơn sơ của bậc toàn giác, đặt lợi ích chung, cứu độ chúng sanh là trên hết. Trên bát úp là cột trụ cao thẳng lên trời có gắn ba hoặc năm đĩa tròn tượng trưng cho Tam Bảo hoặc năm vị Phật sẽ thành đạo trong kiếp này và trên cùng là cõi Niết bàn.

 

Như vậy, nghệ thuật kiến trúc cổng chùa Khmer mang ý nghĩa triết lý Phật giáo sâu xa, đó là sự kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên với con người, giữa đời với đạo, giữa thế giới này với thế giới khác, đặc biệt là sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa Bà la môn giáo với văn hóa Phật giáo.

- Chánh điện: Chánh điện của chùa Khmer thường quay về hướng Đông vì họ cho rằng con đường tu hành của Phật đi từ Tây sang Đông, và thường bố cục mặt bằng theo hệ số lẻ, tượng trưng cho giáo pháp. Có ba lớp mái dốc chồng lên nhau, mái trên cùng cao hẳn lên trời tạo sự nhẹ nhàng cho mái chùa hay xem như là tính âm dương trong nghệ thuật kiến trúc chùa Khmer. Kết thúc từng lớp mái có trang trí hoa văn kết hợp với diềm mái từng lớp bằng thân thần Rắn Naga tượng trưng cho ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới, tạo thành một khối như biệt lập, cách xa với tháp nhỏ đặt giữa đỉnh mái tượng trưng cho Niết bàn cao xa vời vợi. Tuy nhiên, nó đã được kết nối bằng Bayaka (như vảy rồng), bằng thần Rắn cách điệu thành Ê–ra (Rồng con) uốn cong, hay bằng tượng cây nor mềm mại uyển chuyển thay lời mời gọi: Hãy cố chắp cánh bay lên như cây nor bay cao đến đỉnh cột đỡ mái chùa, không nên vì cõi Niết bàn ở xa mà thất vọng buông xuôi như chiếc thuyền đời trôi dạt vô bờ bến giữa biển khơi. Ít nhiều gì đều thành công bởi sự kiên trì của chúng ta...

- Sala riền (Trường học): Trường chùa Khmer không thuần túy dạy một mặt về Phật học mà là kết hợp đào tạo song song, vừa thế học vừa phật học, vừa siêu hình vừa khoa học kỹ thuật, nó tiếp nhận đào tạo cả tu sĩ, cả con em người dân tộc trong phum, sóc. Sự kết hợp hài hòa, sự tác động qua lại và sự hỗ trợ mật thiết không thể tách rời giữa đạo với đời, giữa dân tộc với tín ngưỡng như cá với nước, như răng với môi đã thể hiện rất đậm nét qua tác phẩm nghệ thuật tạo hai khối mái chồng lên nhau, liên kết với nhau chặt chẽ bởi thần Rắn Naga hay hoa văn trang trí. Từ trước đến nay, cũng chính từ mái trường chùa, đa số con em đồng bào dân tộc Khmer xuất gia hay tại gia đã trở thành nhà tri thức, thành thợ hay nghệ nhân, thành cán bộ vừa có đạo đức vừa có trình độ đã và đang giúp ích cho xã hội không kém là bao so với nền giáo dục khác. Nhà giáo Nhân dân Lâm Es - Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Sóc Trăng nói: "Tôi được như hôm nay một phần chủ yếu là từ chùa. Lúc nhỏ được mẹ gửi lên chùa Cần Ðước (Mỹ Xuyên - Sóc Trăng) để đi học, ăn cơm chùa, áo quần bà con phum, sóc cho…" [6].

Qua một số công trình kiến trúc tiêu biểu như trên, chúng ta nhận thấy rằng: nghệ thuật kiến trúc chùa Khmer rất phong phú đa dạng, rất đặc sắc về hình lẫn hồn, mỗi hình khối, mỗi họa tiết trang trí đều toát lên triết lý Phật giáo, Bà la môn giáo cùng kết hợp hài hòa với dân gian, rõ nhất là nó liên kết mật thiết giữa đạo với đời nhưng không hề đối lập, mỹ thuật trang trí không chỉ làm cho đẹp để chiêm ngưỡng, hình khối không chỉ tạo ra không gian, công năng sử dụng mà nó còn là một minh chứng lịch sử chứng minh sự tiến hóa của đồng bào Khmer, là một nền giáo dục hoàn thiện, trường tồn hữu hiệu không hề tụt hậu trong tâm hồn dân tộc, là một kho tàng văn hóa đặc sắc vượt qua không gian và thời gian, chỉ cần chúng ta ra sức bảo tồn, phát huy và đưa nó đi vào phục vụ thiết thực trong cuộc sống, sẽ góp phần làm nên hình ảnh rực rỡ, sống động trong đời sống xã hội Việt Nam.

Ngày nay, có rất nhiều ngôi chùa được trùng tu lại, nên kiến trúc có phần thay đổi. Tuy nhiên, nhìn chung, những nguyên tắc cơ bản vẫn được duy trì, những nét đặc trưng của truyền thống dân tộc vẫn còn nguyên vẹn. Nét đẹp kiến trúc của ngôi chùa phần nào phản ánh được sự sáng tạo thẩm mỹ đặc thù của người Khmer, cũng như tâm tư tình cảm và văn hóa của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long.

2.3. Nét sinh hoạt ở chùa Khmer đồng bằng sông Cửu Long

Chùa Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long thường có khoảng 15 – 20 vị sư thường xuyên tu hành. Đứng đầu mỗi ngôi chùa có một vị sãi cả (sư cả) mà người Khmer gọi là Chao Athika hoặc Luk Krou. Ông là người đức độ, có thời gian tu hành lâu năm và am hiểu Kinh Phật. Công việc của sãi cả là quản lý và điều hành hoạt động tôn giáo của nhà chùa và mối quan hệ giữa nhà chùa với người dân trong sóc. Hàng ngày, vị sãi cả phân công, cắt đặt công việc cho các vị sư sãi trong chùa và những người đến chùa làm công quả, tiếp đón khách khứa…

Thường ngày, buổi sáng, các sư sãi thức dậy khoảng 5 giờ, và 6 giờ tham gia các hoạt động nhà chùa, có thể đọc Kinh, học các bài học ở trường chùa… 8 giờ, một số vị sư đi khất thực, có một vài trẻ em theo sau giúp mang, xách cơm và thức ăn. Một số sư khác ở lại chùa với các công việc học tập và lao động khác như dạy học cho các trẻ em ở trường chùa, làm một số việc tu sửa chùa… Đến khoảng 11 giờ, các vị sư đi khất thực về với các thức dâng cúng trình báo cho vị sãi cả. Sau đó, mọi người có mặt trong chùa, gồm các vị sư, khách thăm chùa,… sẽ dùng bữa trưa. Có thể các vị sư dùng cơm trước, sau đó khách và những người khác trong chùa tiếp tục ăn cơm trưa. Theo thông lệ, các vị sư đang tu hành trong chùa chỉ được phép ăn cơm, hoặc các thức ăn cúng từ lúc buổi sáng khi nhận rõ các đường chỉ trong lòng bàn tay (khoảng 4 – 5 giờ sáng) cho đến lúc bóng nắng khoanh tròn dưới chân (khoảng 12 giờ trưa). Thời gian còn lại trong ngày chỉ được uống nước, uống sữa… Bữa ăn trưa sau khi khất thực về là bữa ăn duy nhất trong ngày ở chùa. Trong trường hợp đi khất thực về chỉ được ít thức ăn, cơm, các sư nhường cho người lớn tuổi hoặc ốm đau, còn lại mọi người lấy nước lã tráng bình bát uống qua bữa. Phương thức ăn chay của Phật giáo Nam tông Khmer là không cấm sư sãi ăn thịt, cá hoặc thịt động vật, chỉ cấm các sư sãi tự tay giết mổ gà vịt, làm thịt cá, nếu ai dâng thức ăn gì thì ăn thức đó, chỉ trừ rùa, rắn…. và ăn từ sáng đến trước 12 giờ.

Buổi tối, các vị sư cùng một số thành viên trong phum, sóc tập trung tại sala thiên hoặc trong chánh điện để nghe vị sãi cả đọc Kinh, giảng giải thuyết pháp Kinh Phật. Buổi tối các ngày 15 vá 30 hàng tháng sau khi đọc Kinh, nghe Kinh Phật xong, các nhà sư trong chùa ngồi lại để xem xét, tự mình cho mọi người biết trong thời gian qua đã làm được việc gì, đúng sai ra sao. Trong thời gian tu hành ở chùa, ngoài việc học Kinh Phật, các sư sãi Khmer có thể học thêm chữ viết Khmer, học chữ Pali để đọc và nghiên cứu Kinh Phật Tiểu thừa. Trong nhiều chùa Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long có thư viện với nhiều đầu sách quý giá về Phật học và văn học cổ điển của người Khmer. Ngày nay, trong một số chùa Khmer đồng bằng sông Cửu Long có lớp dạy tin học và Anh ngữ cho các sư sãi và con em bà con Khmer trong sóc, như ở Trà Vinh có 141 chùa Phật giáo Tiểu thừa trong tỉnh tổ chức các lớp học bổ túc chữ Khmer từ bậc tiểu học đến trình độ trung cấp Pali và các nhà sư tình nguyện đứng lớp giảng dạy miễn phí.

2.4. “Chùa” trong đời sống của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

Người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long quan niệm việc đi tu là một trong những hành vi biểu hiện sự tôn kính Phật pháp. Đặc biệt, người đàn ông dù giàu sang hay nghèo khó ít nhất trong cuộc đời của mình cũng phải có một lần vào chùa tu. Tu ở đây là được học chữ, học kinh kệ để trở thành một người trí thức, có đức hạnh. Ngoài ra, đi tu còn là nghĩa vụ, vinh dự của một đời người, nó còn thể hiện sự đền đáp công ơn cha mẹ. Người Khmer cho rằng, tu ở bậc Tỳ kheo đền ơn cha, tu bậc Sa di là đền ơn mẹ. Như vậy, đi tu chính là cơ hội để tích đức. Tuy nhiên, người phụ nữ không được tham gia tu hành tại chùa (Phật giáo Nam tông không chấp nhận sự có mặt ni cô tại chùa), họ cũng có quyền đi tu nhưng tu tại gia. Đối với những người đàn ông Khmer (đã trải qua tu hành) khi hoàn tục trở lại cuộc sống đời thường, luôn nhận được sự kính trọng của cộng đồng. Vì thế, vai trò các nhà sư trong xã hội có một vị thế đặc biệt, họ không những là người có uy tín mà còn nhận được sự kính nể của mọi người.

            Đối với người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, các vị sư sãi, ngôi chùa của sóc có một vị trí quan trọng không chỉ trong đời sống tôn giáo mà còn trên nhiều mặt khác. Người Khmer đi đâu xa cũng luôn hướng về ngôi chùa của mình ở phum, sóc. Cuộc đời của mỗi người Khmer gần như gắn liền với một ngôi chùa nào đó. Trước khi hỏi thăm bà con, họ hàng, người Khmer luôn hỏi thăm và cầu chúc sức khỏe cho vị sãi cả và các vị sư sãi trong chùa. Đối với vị sãi cả và các vị sư, người Khmer gửi trọn niềm tin và sự kính trọng gần như tuyệt đối của mình. Họ không bao giờ ngồi ngang hàng với các vị sư, nói năng thưa gửi lễ phép… ngay với cả những nhà sư vốn là con cháu của mình đã xuất gia.

            Về phần đời, nhà sư Khmer theo Phật lệ, không có tham dự vào chuyện đời, chỉ lo tu hành. Tuy nhiên, tiếng nói của vị sãi cả và các nhà sư trong chùa rất được người dân trong sóc kính nể và nghe theo. Thường những việc tranh chấp giữa các gia đình, thành viên trong sóc; trước khi có sự phân xét của chủ sóc hoặc của chính quyền địa phương, người dân Khmer thường tìm đến gặp các vị sư hoặc Luk Krou để xin lời khuyên bảo. Cũng có khi, người dân Khmer tìm đến các vị sư để nghe những lời khuyên giải về những vấn đề nan giải, bức xúc trong cuộc sống như có nên đi làm ăn xa, nên mở rộng công việc làm ăn, nên chia tài sản cho con cái,… Phần nhiều những lời khuyến cáo của các vị sư sãi đã giúp hóa giải được những xích mích, mâu thuẫn trong phum, sóc hoặc cũng là chổ dựa tinh thần cho người dân Khmer.

Hoạt động của các vị sư sãi không chỉ đóng khung trong khuôn viên nhà chùa như tu hành, kinh tế hoặc dạy học ở trường chùa mà còn vượt ra bên ngoài, gắn bó mật thiết với phum, sóc, với người dân Khmer. Đó là sự tham gia của các nhà sư vào đời sống tâm linh, vào các hoạt động nghi lễ gia đình, dòng họ và cộng đồng Khmer. Trong các đám tang của người Khmer, sự hiện diện của các nhà sư gần như suốt từ đầu đến cuối nghi lễ. Trong hôn lễ của người Khmer, hai gia đình cô dâu và chú rể phải đến chùa xin mời một số vị sư đến tham dự và thực hiện một số nghi thức cưới xin.

Trong một số nghi lễ vòng đời của người Khmer cũng có sự tham dự của các vị sư sãi. Sau khi sinh đẻ, mẹ tròn con vuông, gia chủ thường mời nhà sư ở chùa của sóc đến cúng lễ, đọc Kinh cầu an, cầu phước. Nhiều gia đình Khmer xin các vị sư đặt tên cho đứa bé, hy vọng tương lai của nó sẽ tốt đẹp…. Sự trưởng thành của một người con trai Khmer được đánh dấu bằng việc vào chùa tu hành. Chỉ sau một thời gian tu hành ở chùa, người con trai mới có địa vị trong xã hội, được mọi người quý trọng, xem là người trưởng thành…

Những dữ liệu trên đây cho thấy nhà chùa và nhà sư Khmer đã có vai trò, vị trí tích cực trong cuộc sống của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long. Nhà chùa không chỉ là trung tâm tôn giáo mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa và xã hội của người Khmer. Nhà sư không chỉ là người tu hành, hoạt động kinh tế, học Phật pháp mà còn là những người được người Khmer kính trọng, yêu mến, sẻ chia những suy nghĩ, giúp đỡ mọi người trong tâm linh cũng như trong thực tế.

3. KẾT LUẬN

Ngôi chùa có một vị thế rất vững chắc trong đời sống xã hội và tâm thức của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long. Theo Hòa thượng Kim Rên - Trụ trì Chùa Dơi, thì: "Chùa và chư tăng là cột trụ về tinh thần, cho nên mọi nghi thức lễ hội, đón mừng năm mới diễn ra ở chùa, mang đậm màu sắc lễ hội Phật giáo. Nam giới lớn lên được tu dưỡng trong tinh thần Phật giáo, xuống tóc đi tu, học giáo lý nhà Phật, học văn hóa trước khi bước vào cuộc sống tự lập của người trưởng thành. Khi chết, người Khmer hỏa táng và tro được gửi lên chùa" [6]. Ðóng góp dựng chùa, nuôi chùa được coi như một khoán ước bảo đảm hạnh phúc cho cuộc sống hiện tại và vĩnh hằng sau này của mỗi kiếp người. Người Khmer không tiếc công sức, vật liệu quý cùng sự khéo léo của đôi tay để xây dựng chùa. Vì thế, chùa trở thành trung tâm của phum, sóc, gắn bó thiêng liêng cả cuộc đời con người. Chùa là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa, là nơi rèn luyện đạo đức, phẩm hạnh của người Khmer Nam bộ nói chung, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long nói riêng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Báo cáo sơ kết công tác Phật sự 6 tháng đầu năm 2010 của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

[2]. Nguyễn Khắc Cảnh (1997), Chùa Khmer Đồng bằng sông Cửu Long - Một công trình nghệ thuật kiến trúc độc đáo, Tập san khoa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, số 1.

[3]. Trần Hồng Liên (2004), Góp phần tìm hiểu Phật giáo Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Khoa học xã hội.

[4]. Huỳnh Lứa (1987), Lịch sử khai phá vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.

[5]. Trường Lưu (1993), Văn hóa người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

[6]. Phương Nghi, Chùa trong đời sống của người Khmer Đồng bằng sông Cửu Long.

http://www.nhandan.com.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/van-hoa/tin-chung/chua-trong-i-s-ng-c-a-ng-i-khmer-nam-b-1.332110 [01/02/2012]

[7]. Ngô Đức Thịnh (1984), Người Khmer đồng bằng sông Cửu Long là thành viên của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 3.

[8]. Lâm Thanh Tòng (1977), Một số đặc điểm cư trú của người Khmer ở Sóc Trăng, Tạp chí Dân tộc học, số 4.

Khoa Lý luận chính trị