Chia sẻ

TẠO HỨNG THÚ CHO NGƯỜI HỌC THÔNG QUA “NGÔN NGỮ CƠ THỂ”

06-03-2018

ThS. Đoàn Văn Re

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Có thể nói, ngôn ngữ đã làm thay đổi cuộc sống. Hãy tưởng tượng rằng, chúng ta đang ở trong một căn phòng tối, có thể chạm tay vào đồ đạc trong phòng từ rèm cửa đến cái bàn, cái ghế và những vật dụng khác. Tuy nhiên, chúng ta vẫn không biết được chúng ra sao. Ngọn đèn để bật sáng những thứ luôn có sẵn đó là một loại ngôn ngữ. Trong giảng dạy, đặc biệt đối với những môn lý luận chính trị, với việc sử dụng phương pháp thuyết trình là chính thì ngôn ngữ ấy đóng góp một vai trò rất lớn trong việc tạo hứng thú cho người học, khai thác tối đa năng lực của con người.

II. NỘI DUNG

William Arthur Ward - một nhà văn người Mỹ cho rằng: “Người thầy trung bình chỉ biết nói, người thầy giỏi biết giải thích, người thầy xuất chúng biết minh họa, người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng”. Thật vậy, cảm hứng, hứng thú có vai trò rất quan trọng, tác động đến nhận thức và hoạt động của con người.

Có rất nhiều quan niệm của các học giả trong và ngoài nước về khái niệm này. Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên thì hứng thú là sự ham thích; cảm thấy có hứng thú, hào hứng [4, tr.496]. Còn theo PGS.TS. Trần Thị Minh Đức chủ biên cuốn Tâm lí học đại cương, do Nxb Giáo dục ấn hành năm 1995 thì khẳng định rằng: Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động [1].

Trong giảng dạy, hứng thú là yếu tố kích thích sự chú ý của người học, tạo động cơ, hình thành cảm xúc giúp người học mong muốn khám phá và chiếm lĩnh tri thức môn học. Theo nghiên cứu của hai nhà tâm lý học (Peter Salovey ở Đại học Yale và John Mayer ở Đại học New Hampshire) thì năng lực (trí tuệ) cảm xúc (EQ) của con người chiếm đến 75% so với năng lực hiểu biết (IQ) là 25%. Năng lực cảm xúc được hiểu là: sự hiểu biết về các xúc cảm, làm chủ các xúc cảm, tự thúc đẩy, biết nhận biết cảm xúc của người khác, làm chủ những mối liên hệ của con người [5]. 

Người có năng lực cảm xúc tốt sống lạc quan, biết lắng nghe để thấu hiểu người khác, dễ thích nghi với ngoại cảnh, linh hoạt, chủ động và sáng tạo trong công việc, có khả năng chịu áp lực và vượt qua nghịch cảnh. Năng lực cảm xúc giúp các cuộc đàm phán sẽ diễn ra trong bầu không khí thoải mái hơn, thuận lợi hơn và hiệu quả hơn, giúp giải quyết ổn thỏa mọi cuộc đàm phán dù là khó khăn, bất kể xuất phát từ nguyên nhân nào như sự thiếu tinh thần cộng tác của đồng nghiệp hay những trục trặc nảy sinh từ phía người thân. Chỉ số EQ mới thật sự là yếu tố quyết định sự thành công trong cuộc sống. Trong giáo dục cũng vậy, đây chính là cơ sở mà nếu người dạy khai thác tốt sẽ phát huy tối đa năng lực tiếp thu của người học.

Do đó, nhiệm vụ của nhà giáo theo Uyliam Batơ Dit - một nhà giáo dục học nổi tiếng: “không phải là người nhồi nhét kiến thức mà đó là công việc của người khơi dậy ngọn lửa cho tâm hồn, khơi dậy cảm xúc cho người học. Năng lực cảm xúc là một trong những kỹ năng quan trọng cần có và có thể rèn luyện để nâng cao từng bước trong cuộc đời từ tuổi thơ, đặc biệt quan trọng đối với người học. Do đó, việc hình thành và phát triển hứng thú nói chung cũng như hứng thú cảm xúc trong học tập nói riêng cho người học là yêu cầu hết sức cần thiết của người dạy.

Hứng thú ở đây không chỉ lúc vào bài mà cả trong quá trình giảng dạy và kết thúc bài học. Chẳng hạn khi vào bài, người dạy thường đưa ra tình huống có vấn đề, kể một câu chuyện, hay đưa ra các số liệu thống kê nhằm gây sự chú ý của người học. Còn trong quá trình giảng dạy, người dạy sử dụng kết hợp nhiều phương pháp để truyền đạt nội dung đến người học. Kết thúc bài học, người dạy hệ thống hoá lại nội dung chính của bài để người học nắm được ý chính của bài.

Mục tiêu của mỗi bài học đều có mục tiêu về nhận thức, kỹ năng và thái độ tuy nhiên, việc tạo hứng thú như trên chung quy lại chỉ nhằm mục tiêu là giúp người học nắm được kiến thức bài học hay nói cách khác là chỉ đạt mục tiêu về nhận thức, còn mục tiêu về kỹ năng và thái độ vẫn chưa đạt được. Thực tế nhiều người học sau khi ra trường chưa thể đáp ứng được yêu cầu về kỹ năng cũng như chưa có thái độ thích hợp trong công việc và cuộc sống. Vì lẽ đó, việc giúp người học có được năng lực cảm xúc là điều hết sức quan trọng nhằm đạt được mục tiêu kỹ năng và thái độ.

Tạo hứng thú thông qua việc truyền thụ kiến thức (giao tiếp bằng ngôn từ) trên cơ sở kết hợp nhiều phương pháp khác nhau đây chỉ là một trong những điều kiện cần thiết nhưng chưa đủ, nó chỉ là một phần nhỏ giúp người học chiếm lĩnh tri thức. Cách thức tiến hành này thường không phát huy hết hiệu quả vì người dạy thường chỉ dùng lời giảng thông báo thông tin, nội dung bài giảng mang tính đồng loạt đến người học, còn người học thì tiếp nhận một cách thụ động những thông tin đó, họ chỉ nghe, nhìn theo lời giảng của người dạy và ghi nhớ. Do đó, bài học dễ sa vào đơn điệu, người học thì cảm thấy chóng nhàm chán và dễ mệt mỏi.

Phần lớn đa số mọi người vẫn tin rằng ngôn từ là hình thức giao tiếp chủ yếu của chúng ta và nó được phát triển cách đây 500.000 đến 2 triệu năm. Trước đó, “ngôn ngữ cơ thể” và những âm thanh phát ra từ cổ họng là các phương tiện chủ yếu để chuyển tải cảm xúc, tình cảm và điều này vẫn còn đúng cho đến ngày nay. Nhưng do quá tập trung vào nội dung truyền tải nên hầu hết chúng ta không để ý nhiều đến “ngôn ngữ cơ thể”. Vì vậy, tầm quan trọng của “ngôn ngữ cơ thể” trong giao tiếp, giảng dạy cũng như trong cuộc sống vẫn chưa được nhận thức đầy đủ.

Đề cập đến tác dụng của “ngôn ngữ cơ thể” trong quá trình giao tiếp, Albert Mehrabian, một nhà nghiên cứu tiên phong về ngôn ngữ cơ thể, vào thập niên 50 của thế kỷ XX, đã phát hiện rằng trong tổng tác dụng của một thông điệp thì lời nói (chỉ xét riêng từ ngữ) chiếm khoảng 7%, thanh âm (bao gồm giọng nói, ngữ điệu và các âm thanh khác) chiếm 38%, còn ngôn ngữ không lời chiếm đến 55% (các tác dụng này tuỳ thuộc vào từng đối tượng khác nhau). Cũng giống như Mehrabian, nhà nhân chủng học Ray Birdwhistell đã phát hiện ra trong cuộc trò chuyện trực diện thì yếu tố lời nói chiếm chưa đến 35%, còn trên 65% là giao tiếp không lời. Trong thương lượng, theo chuyên gia hàng đầu về ngôn ngữ cơ thể - Allan Pease thì “ngôn ngữ cơ thể” chiếm khoảng 60 - 80% ảnh hưởng trong việc đàm phán [3, tr.32].

Nếu như trước đây, giảng dạy theo phương pháp truyền thống chỉ chú trọng vào lời nói và âm thanh theo như Albert Mehrabian thì chỉ có tác dụng chưa đến 45%, ngày nay nhờ các phương tiện công nghệ thông tin nghe, nhìn thì tác dụng mới đến đạt đến ngưỡng 45%. Như vậy, còn 55% yếu tố tác động đến hiệu quả giảng dạy hầu như chúng ta vẫn chưa chú ý. Đó là giao tiếp bằng “ngôn ngữ cơ thể” (hay còn gọi ngôn ngữ phi ngôn từ).

Theo cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể (The Definitive book of Body Language) của tác giả Allan và Barbara Pease do Lê Huy Lâm dịch thì cho rằng: “ngôn ngữ cơ thể là sự phản ánh trạng thái cảm xúc của một người ra bên ngoài” [3, tr.34]. Mỗi điệu bộ hoặc động thái đều có thể cho thấy cảm xúc của một người vào thời điểm đó. Ngôn ngữ cơ thể đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả truyền đạt thông tin đến người nghe. Một bài giảng, thuyết trình hay là sự kết hợp nhuần nhuyễn của ba yếu tố: ngôn từ, giọng điệu (lời nói) và ngôn ngữ cơ thể: trang phục, dáng đứng (bước chân), cách di chuyển, nét mặt, giọng nói, mắt, tay (động tác tay),… trong đó “ngôn ngữ cơ thể” chiếm một vị trí hết sức quan trọng tạo nên sự lôi cuốn của bài giảng. Đối với môn lịch sử chẳng hạn, để biểu đạt thắng lợi của quân và dân ta, người dạy thể hiện gương mặt vui vẻ, đôi mắt sáng lên và dùng lời nói mạnh mẽ để khẳng định ý nghĩa của chiến thắng đó.

Sử dụng biểu đạt của “ngôn ngữ cơ thể” trong quá trình giảng dạy, thuyết trình, giao tiếp nói riêng và trong cuộc sống nói chung, đặc biệt là giảng dạy các môn lý luận chính trị góp phần nâng cao hiệu quả truyền đạt, biểu lộ cảm xúc, thái độ, nhìn nhận, đánh giá hay tạo sự quan tâm đối với người nghe, người học. Chính vì vậy, để đạt kết quả người dạy cần có sự kiên trì luyện tập, vận dụng một cách linh hoạt “ngôn ngữ cơ thể” trong quá trình giảng dạy, đồng thời kết hợp với giao tiếp bằng ngôn từ để tạo hứng thú và khai thác tối đa năng lực cảm xúc của người học - “tảng băng” tiềm ẩn trong năng lực của con người.

 “Ngôn ngữ cơ thể” được thể hiện qua một số yếu tố sau:

Thứ nhất, trang phục: đối với người học nói riêng và trong cuộc sống hàng ngày nói chung thì ấn tượng đầu tiên rất quan trọng. Một người để lại ấn tượng tốt khi hình ảnh và dáng vẻ bề ngoài được chú trọng. Trang phục bên ngoài thể hiện ấn tượng đó. Một người dạy khi lên lớp, ấn tượng đầu tiên của người học là vẻ bề ngoài - trang phục. Tuy nhiên, có thể do thói quen hay do những hoàn cảnh khác nhau, nhiều người dạy khi lên lớp ít chú ý đến trạng phục hoặc mặc những bộ quần áo chói mắt, tạo ấn tượng ban đầu không tốt cho người học. Trang phục ít nhiều ảnh hưởng đến nội dung bài học. Một người dạy chú ý đúng mực đến trang phục thể hiện một thái độ tôn trọng người học.

Thứ hai, dáng đứng: dáng đứng của người dạy cũng rất quan trọng đối với người học, tuy nhiên chúng ta vẫn ít chú ý. Thực ra, đôi chân và bàn chân là nguồn thông tin quan trọng tiết lộ thái độ của người nào đó. Người dạy đứng trong quá trình lên lớp là cần thiết nhưng chưa đủ. Một dáng đứng đúng phải thể hiện sự năng động, thả lỏng thoải mái (một chân tựa và một chân trụ). Khi di chuyển, toàn thân người dạy phải vận động theo, tay nào và chân ấy, tránh trường hợp “mặt đi nhưng người ở lại”. Tư thế chân dang rộng không bắt chéo chân của người dạy cho thấy thái độ cởi mở, trong khi đó tư thế bắt chéo chân biểu lộ thái độ khép kín của người dạy – người dạy không sẵn sàng lắng nghe ý kiến trao đổi hoặc hoài nghi về ý kiến của người học, thậm chí là hoài nghi thông điệp truyền tải của bản thân mình.

Thứ ba, cách di chuyển: con người cũng là một động vật (bậc cao), sự chú ý được dõi theo khi có sự di chuyển. Để gây sự chú ý của người học, trong quá trình giảng dạy đòi hỏi người dạy phải di chuyển. Người dạy có thể di chuyển theo hình tam giác từ trái sang phải, lùi về sau. Khi di chuyển người dạy phải di chuyển cả người. Mục đích của việc di chuyển là thay đổi góc nhìn, góc nói để cho người học thay đổi và vận động theo, tránh sự đơn điệu. Trong thực tế, có nhiều người dạy vì nhiều lý do khác nhau chỉ đứng im hay ngồi một chỗ. Hạn chế này tác động tiêu cực đến việc giao tiếp, cũng như vô hình chung tạo ra khoảng cách giữa người dạy và người học dẫn đến khó thực hiện việc trao đổi kiến thức, cảm xúc một cách thẳng thắn; thậm chí làm cho người học ngại và sợ người dạy.

Thứ tư, nét mặt: nét mặt bao gồm ánh mắt trong quá trình truyền đạt thông tin có tác dụng rất quan trọng, đặc biệt là trong những cuộc giao lưu bằng tình cảm, tác dụng của nét mặt chiếm tỷ lệ lớn. Các nhà tâm lý phát hiện ra rằng, trong những cuộc giao lưu bằng tình cảm, truyền đạt thông tin cần có 12% ngôn ngữ cộng thêm 38% giọng nói và thêm 50% nét mặt, như vậy có thể thấy rõ tính quan trọng của nét mặt. Một nét mặt thu hút hứng thú của người nghe khi thể hiện sự biểu cảm, khi vui, khi buồn khi trang nghiêm,… từng lúc. Trong thực tế, khi lên lớp, nhiều giáo viên vẫn giữ nét mặt giống như nhau từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc giờ lên lớp. Đối với những môn học cần có sự biểu cảm, nét mặt ấy tạo sự nhàm chán và đánh mất sự hứng thú của người học.

Một biểu hiện không thể thiếu trên khuôn mặt là nụ cười. Nhà tư tưởng triết học vĩ đại người Pháp Jean-Jacques Rousseau đã từng nói: "Nụ cười là một loại thuốc trấn tĩnh không có tác dụng phụ". Nụ cười là biểu hiện tốt đẹp của khuôn mặt và là biểu hiện của sự tự tin. Khi đang giảng dạy hay thuyết trình, người dạy mỉm cười thì có thể xây dựng nên mối quan hệ hài hòa với người học, xóa đi bức tường ngăn cách giữa thầy và trò, góp phần tạo nên tâm lý thoải mái trong lớp học, hạn chế sự căng thẳng khô khan không cần thiết, nhất là khi phải truyền đạt những lý luận khoa học mang tính hàn lâm và trừu tượng.

Thứ năm, giọng nói: để truyền tải nội dung đến người học, giọng nói của người dạy rất quan trọng, nó quan trọng thứ hai sau “ngôn ngữ cơ thể”. Ông cha ta thường bảo: “nói ngọt lọt đến xương”. Một giọng nói to và rõ thì vẫn chưa đủ. Trong thực tế lên lớp, nhiều người dạy nói rất to, làm át giọng nói của những người dạy ở các phòng học khác. Tuy nhiên, giọng nói như thế sẽ làm cho người học thấy chói tai, gây cảm giác mệt mỏi, thậm chí làm cho người học hoảng sợ. Bên cạnh đó, chúng ta cũng thường nghe nhiều người dạy có giọng nói rất nhỏ hoặc giọng đều đều làm cho người học không nghe rõ hoặc làm cho họ dễ bị ru ngủ. Đây là hai hạn chế rất lớn liên quan đến giọng nói mà người dạy cần phải khắc phục. Một giọng nói được xem là tạo hứng thú cho người nghe khi giọng nói đó đủ to và có sinh lực, sinh khí với cường độ (lên giọng, xuống giọng) và trường độ (dài, ngắn) khác nhau, và có sự truyền cảm. Mặt khác, người dạy cần kết hợp với toàn thân để điều tiết giọng nói.

Thứ sáu, đôi mắt: đôi mắt là bộ phận có khả năng biểu hiện cảm xúc nhiều nhất trong cơ thể người. Nó là cửa sổ tâm hồn, biểu hiện của sự tôn trọng và chú ý.

Lịch sử chứng minh rằng chúng ta luôn bị thu hút bởi đôi mắt và chúng tác động đến hành vi của chúng ta. Sự tiếp xúc bằng mắt điều chỉnh cuộc trò chuyện. Khi nói chuyện trực diện, chúng ta nhìn vào mắt người đối diện. Vì vậy, các dấu hiệu bằng mắt là một phần quan trọng để nhận biết thái độ và suy nghĩ của họ.

Trong giảng dạy, người dạy muốn người học chú ý đến mình thì mình phải quan tâm đến họ. Quan tâm người học thể hiện rõ qua sự quan sát của người dạy. Việc người dạy nhìn chằm chằm vào giáo án hay không nhìn vào người học là hạn chế rất lớn trong quá trình dạy học, mặc dù người dạy say mê với nội dung thuyết giảng nhưng người học vẫn cảm thấy nhàm chán vì họ thiếu sự quan tâm đúng mức. Việc người dạy nhìn vào người học có tác dụng rất lớn trong việc điều chỉnh giọng nói, cách diễn đạt và cũng để biết được người học có nắm được nội dung mà người dạy truyền giảng chưa và nó đến mức độ nào. Con ngươi của người học mở to là biểu hiện thái độ hứng thú và sẵn sàng đón nhận kiến thức từ người dạy. Một người dạy có kinh nghiệm thường vận dụng ánh mắt của mình một cách thích hợp và khéo léo để thể hiện tình cảm của mình, ảnh hưởng và lan tỏa tới người nghe. Người học có thể từ đôi mắt của người thầy mà cảm nhận được cái hồn của bài giảng và đọng lại một cách sâu sắc trong tâm trí họ. Đối với những lớp đông, người dạy cần chia nhỏ lớp học hay hội trường thành từng vùng, khu vực nhỏ hay nhiều nhóm. Tuỳ theo nhóm mà người dạy quan sát từng người hay một vài người trong nhóm đó - chia sẻ sự quan tâm đến mọi người, đến người học.

III. KẾT LUẬN

Antoine de Saint - Exupery, nhà văn nổi tiếng người Pháp rất có lý khi cho rằng: “Với trái tim, người ta có thể nhìn thấy những cái cốt yếu mà đôi mắt không thể nhìn thấy được”. “Ngôn ngữ cơ thể” không chỉ góp phần tăng hứng thú cho người học đối với nội dung bài giảng nói riêng mà còn góp phần làm thay đổi cuộc sống nói chung. Từ trái tim đến khối óc, đã làm nên thay đổi đó./.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

[1]. Trần Thị Minh Đức (1995), Tâm lí học đại cương, Nxb. Giáo dục.

[2]. Trần Hoàng Long, Vận dụng ngôn ngữ cơ thể trong phương pháp thuyết trình, [http://www.tcsgt.edu.vn/nha-giao-cong-an/phng-phap-gd-hin-i/193-vn-dng-ngon-ng-c-th-trong-phng-phap-thuyt-trinh.html], ngày 13/2/2012.

[3]. Allan và Barbara Pease (Lê Huy Lâm dịch), Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể (The Definitive book of Body Language), Nxb. Tổng hợp TPHCM.

[4]. Hoàng Phê (chủ biên) (1988), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

[5]. Trí tuệ cảm xúc, [http://www.tam-sang.com/?q=node/307], 26/11/2012.

Khoa Lý luận chính trị