Chia sẻ

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ VIÊN CHỨC CÓ TRÌNH ĐỘ SAU ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN CỦA ĐƠN VỊ

29-05-2018

TS. Lê Thị Son

1. Sự cần thiết của việc xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức có trình độ sau đại học đáp ứng yêu cầu phát triển ở đơn vị

Ngày nay, nhân loại đang bước vào nền văn minh trí tuệ, nền kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế tri thức, ưu thế không hoàn toàn lệ thuộc vào các nhân tố truyền thống như tài nguyên, đất đai, nhân công,… mà nhân tố có ý nghĩa quyết định là trí tuệ con người, là đội ngũ lao động chất lượng cao, là chất xám của các chuyên gia. Vì vậy, chỉ có đi bằng con đường phát triển giáo dục, phát triển năng lực sẵn có trong mỗi con người, chúng ta mới có thể đi tắt, đón đầu, phát huy thế mạnh của con người Việt Nam để xây dựng và phát triển đất nước. 

Tri thức là sức mạnh, giáo dục và đào tạo là động lực của phát triển. Hồ Chí Minh cho rằng: Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc, trong đấu tranh giành chính quyền cần trí thức, kháng chiến, kiến quốc cần trí thức, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội càng cần trí thức hơn. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã khẳng định: Đội ngũ cán bộ khoa học, đặc biệt là cán bộ có trình độ khoa học cao là vốn quý báu của dân tộc. Và ngay từ Đại hội VIII - Đại hội xác định nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, Đảng ta đã chỉ rõ: Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nhân lực, bồi dưỡng nhân tài… Hội nghị Trung ương 8 khóa XI cũng đã ra Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,...

Nhằm thực hiện chủ trương trên cùng với tình hình thực tiễn của nhà trường đang thiếu và rất cần những nhà khoa học, những chuyên gia trong các ngành, các lĩnh vực nhằm đưa nhà trường tiến lên trong giai đoạn hội nhập quốc tế với nhiều cơ hội nhưng cũng đầy thách thức, Đảng ủy trường ĐHTG đã ban hành Nghị quyết số 14-NQ/ĐU ngày 25/9/2015 về “Đào tạo đội ngũ viên chức có trình độ tiến sĩ giai đoạn 2016- 2020” và Chi ủy Chi bộ 3 đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/CB ngày 13/10/2015 về “Đào tạo đội ngũ viên chức có trình độ tiến sĩ giai đoạn 2016-2020” nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Khoa, của nhà trường.

Chúng ta đang công tác trong ngành giáo dục, là những GV đại học, nghĩa là hầu hết chúng ta tối thiểu đang có tấm bằng thạc sỹ trong tay. Về cơ bản là đáp ứng được yêu cầu giảng dạy của nhà trường. Tuy nhiên, điều đó thật sự chưa đủ, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, với vai trò quan trọng của tri thức khoa học thì việc học SĐH (học NCS) đối với mỗi GV lại càng có ý nghĩa cấp thiết hơn bao giờ hết. Đây là cơ sở cần thiết để nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, hướng đến đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực, tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong bối cảnh hội nhập hiện nay. Chính vì vậy, bản thân mỗi GV phải luôn nhận thấy rằng việc học SĐH (học NCS) là tất yếu để tồn tại, phát triển và phải luôn không ngừng cố gắng, phấn đấu vươn lên cả về chuyên môn và nghiệp vụ nhằm góp phần vào sự nghiệp phát triển của Khoa, của trường nói riêng, của nền giáo dục nước nhà nói chung, như lời khuyên nhủ của Albert Einstein “Đừng chỉ cố gắng trở thành một người thành công mà hơn thế, hãy trở thành người có giá trị”.

2. Những rào cản đặt ra đặt ra đối với việc học tập nâng cao trình độ đối với VC Khoa LLCT

Thực hiện chỉ đạo trên, trong những năm qua, lãnh đạo Khoa LLCT đã đưa ra những chủ trương, kế hoạch và đôn đốc, nhắc nhở, động viên, tạo điều kiện để GV trong Khoa đi học NCS, được thể hiện cụ thể trong kế hoạch năm học và xem đây là một trong những tiêu chí phấn đấu của Khoa, và trong kỳ họp Chi bộ, họp Khoa mỗi tháng, Chi ủy, LĐK cũng thường xuyên nhắc nhở, động viên việc học tập, nâng cao trình độ của VC trong Khoa.

Thực hiện chủ trương trên, hầu hết các GV trong Khoa có ý thức trách nhiệm cao trong việc học tập nâng cao trình độ, và trong thời gian qua cũng đã cố gắng, nỗ lực ôn luyện ngoại ngữ và chuyên môn để thi NCS. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, hầu hết các GV trong Khoa đã gặp một số khó khăn nhất định nên chưa thể đạt được mục tiêu đề ra. Có thể nhận thấy một số khó khăn của các GV trong Khoa tập trung vào một số vấn đề sau:

Thứ nhất, về kinh phí: đa số các GV trong Khoa còn khá trẻ, thu nhập khá thấp, mà có thu nhập chủ yếu từ tiền lương nên kinh tế còn nhiều khó khăn trong khi việc học NCS lại chi phí khá nhiều nên một số GV còn nhiều tâm tư.

Hai là, về thời gian: trong thời gian vừa qua, một số GV nữ trong Khoa đang trong thời gian sinh và nuôi con nhỏ nên chưa sắp xếp được thời gian và công việc gia đình để học NCS.

Ba là, về ngoại ngữ: Mặc dù trong thời gian qua, nhà trường đã mở lớp bồi dưỡng tiếng anh để tạo điều kiện cho VC trong trường tiếp tục học SĐH nhưng để đáp ứng tốt việc thi đầu vào ngoại ngữ cho NCS thì một số VC trong Khoa vẫn còn vẫn còn tâm lý e ngại với khả năng ngoại ngữ của mình.

Bốn là, quy định mới trong tuyển sinh của Bộ GD: quy chế mới về tuyển sinh và đào tạo tiến sĩ có hiệu lực từ 18/5/2017 của Bộ GD quy định NCS phải có 2 bài báo quốc tế mới được bảo vệ luận án. Quy định này cũng là một rào cản không nhỏ đối với các GV LLCT muốn thi vào NCS.

Năm là, một số chính sách hỗ trợ của nhà trường trong và sau khi học NCS chưa thật sự “hấp dẫn” nên chưa khuyến khích được các GV tích cực học tập nâng cao trình độ hoặc chưa đủ sức “giữ chân” một số GV có trình độ cao.

3. Khuyến nghị một số giải pháp nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức có trình độ sau đại học đáp ứng yêu cầu phát triển của đơn vị

3.1. Đối với nhà trường

Có thể nói, việc học SĐH là vấn đề sống còn của bản thân mỗi cán bộ viên chức và của nhà trường, đặc biệt là việc học NCS. Vì thế, trong năm qua, Đảng ủy, BGH nhà trường cũng có những chính sách cụ thể nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho cán bộ viên chức trong quá trình học tập nâng cao trình độ. Tuy nhiên, theo tôi, những chính sách đó chưa thật sự đủ mạnh để khuyến khích, chưa tạo được động lực cao để giúp các cán bộ viên chức nhà trường trong việc đi học nâng cao trình độ. Vì vậy, trong thời gian tới, nhà trường cần quan tâm hơn nữa, có những chính sách cụ thể, thiết thực hơn nữa nhằm tạo động lực cho cán bộ viên chức học tập để nâng cao trình độ. Cụ thể:

- Thứ nhất, về kinh phí: Thiết nghĩ, nhà trường nên cân đối nguồn tài chính để hỗ trợ kinh phí cho VC trong quá trình học tập nâng cao trình độ nhiều hơn hiện tại, nên có chính sách khen thưởng đối với VC trúng tuyển vào NCS, bảo vệ luận án đúng thời hạn và khi nhận được bằng TS để khuyến khích VC tích cực nỗ lực học NCS,… Và nếu được, nhà trường nên có nguồn quỹ riêng cho VC trong trường đang học NCS (hỗ trợ, cho vay không lãi suất hoặc với lãi suất thấp cho các VC đang học NCS) để các VC yên tâm hơn về mặt kinh phí trong quá trình học tập.

- Thứ hai, về bài báo quốc tế: nếu được, nhà trường cần thành lập câu lạc bộ hoặc một nhóm chuyên gia làm đầu mối để nhằm hướng dẫn, hỗ trợ các VC trong nhà trường trong việc viết và gửi bài báo quốc tế để các VC thuận lợi và yên tâm hơn trong việc đáp ứng yêu cầu này theo quy chế tuyển sinh mới của Bộ GD về đào tạo tiến sĩ hiện nay.

- Thứ ba, về chế độ hỗ trợ, tạo điều kiện của nhà trường trong việc học NCS: chế độ miễn giảm giờ chuẩn được thể hiện trong quy chế nhà trường hiện nay theo tôi còn chưa hợp lý ở chỗ: nếu NCS được giảm giờ chuẩn sẽ không được dạy vượt giờ hoặc không được hưởng cả phụ cấp nếu miễn giờ chuẩn cho NCS năm cuối. Theo tôi, nhà trường cần tạo điều kiện cho GV được dạy vượt giờ, hưởng phụ cấp để có thêm thu nhập mà trang trãi việc học nếu VC có thể sắp xếp được thời gian và có nhu cầu,… Bên cạnh đó, nhà trường cần có những chính sách hỗ trợ phù hợp hơn cho những VC đã hoàn thành xong chương trình học để họ có thể yên tâm ở lại trường công tác, vì theo tôi nhận thấy là chế độ hỗ trợ hiện nay của nhà trường còn thấp, chưa thật sự đủ mạnh để “giữ chân” họ.

 Tuy nhiên, bên cạnh những chế độ, chính sách nhằm hỗ trợ VC học tập nâng cao trình độ thi nhà trường cũng đưa ra những chế tài tương ứng nếu VC không hoàn thành nhiệm vụ học tập hoặc không thực hiện đúng những quy định của nhà trường. Có như thế, mới có thể khuyến khích được VC trong việc học tập nâng cao trình độ và cũng là để giải quyết bài toán đối với trường ta hiện nay. 

3.2. Đối với Chi bộ, Khoa:

 Thiết nghĩ, Chi bộ, Khoa nên có những biện pháp vừa cứng rắn, vừa mềm dẻo hơn nữa nhằm đôn đốc, thúc đẩy VC trong Khoa trong việc học NCS để đạt được kế hoạch đề ra. Cụ thể:

- Trên cơ sở kế hoạch đăng ký học NCS của các GV trong Khoa, căn cứ vào các quy định về đối tượng, điều kiện, tiêu chuẩn xét chọn cử đi đào tạo, bồi dưỡng, nhiệm vụ và hoàn cảnh cụ thể của VC, Chi bộ, Khoa đặt ra chỉ tiêu cụ thể và hướng đến đối tượng cụ thể để thúc đẩy GV đi học NCS, xem đó là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá GV trong năm học đó.

- Đồng thời, Chi bộ, Khoa cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để VC hoàn thành nghĩa vụ học tập như: sắp xếp người hỗ trợ công việc trong lúc VC đi ôn thi đầu vào, bố trí giờ dạy hợp lý theo hướng ưu tiên cho VC trong lúc đi học, thường xuyên quan tâm, đôn đốc và kịp thời hỗ trợ, giúp đỡ VC giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình học tập.

3.3. Đối với các GV trong Khoa:

        - Mỗi GV cần phải xác định rằng, đây là một nhiệm vụ, trách nhiệm đối với Khoa, với nhà trường đồng thời phải chủ động sắp xếp thời gian hợp lý giữa công việc gia đình, công việc cơ quan và công việc học NCS của bản thân, đặc biệt là đối với những GV đang nằm trong đối tượng bắt buộc phải đi học sớm.

        - Tích cực, nỗ lực chuẩn bị những điều kiện cần thiết (ngoại ngữ, chuyên môn, bài báo) để học NCS.

Dẫu biết rằng mỗi người có một cuộc sống riêng, hoàn cảnh riêng, ai cũng có những khó khăn nhất định trong cuộc sống. Tuy nhiên, muốn quyết tâm học tập để nâng cao trình độ thì bản thân mỗi người chúng ta phải biết sắp xếp thời gian, lên kế hoạch cụ thể cho mình và phải thật sự quyết tâm vượt qua những khó khăn thì mới có thể đạt được kết quả.

Khoa Lý luận chính trị