Chia sẻ

SUY NGHĨ VỀ SỰ THẤT BẠI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ QUA TÁC PHẨM “BẢN LĨNH VIỆT NAM” CỦA GIÁO SƯ TRẦN VĂN GIÀU

06-06-2018

ThS. Nguyễn Trung Hiếu

Bản lĩnh Việt Nam[i] của Giáo sư, Nhà giáo nhân dân, Anh hùng lao động Trần Văn Giàu là một tác phẩm mang ý nghĩa triết lý - lịch sử rất sâu sắc, đặc biệt là tính thời sự của những vấn đề mà Giáo sư nêu ra và luận giải một cách đầy thuyết phục bằng khối kiến thức uyên bác kết hợp với lời văn giọng nói hào sảng của người con vùng đất Nam Bộ.

Bản lĩnh Việt Nam là một tác phẩm ngắn, khúc chiết, cô đọng, được Giáo sư trình bày thật logic, gồm 112 trang. Song, qua những trang viết tâm huyết của mình, Giáo sư đã khái quát được toàn vẹn bức tranh lịch sử tư tưởng Việt Nam, mà sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong dòng chảy ấy là chủ nghĩa yêu nước chân chính. Trên cơ sở đó, bằng những luận cứ khoa học xác thực, Giáo sư đã giải quyết những vấn đề liên quan – những nhân tố làm nên dáng vóc Việt Nam vĩ đại, tầm cỡ của một dân tộc anh hùng.

Trong quyển sách mỏng này, Giáo sư luận bàn xoay quanh bốn vấn đề lớn: 1) Sự hình thành về cơ bản của hệ tư tưởng yêu nước Việt Nam; 2) Tầm vóc của chiến thắng Điện Biên Phủ; 3) Nguyên nhân thất bại của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam; 4) Bản lĩnh Việt Nam.

Cả nước ta đang trong không khí sôi nổi chào mừng 43 năm chiến thắng đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975 – 30/4/2018, trong bài viết này, chung tôi xin giới thiệu nội dung thứ ba của tác phẩm – với tính cách là một thực tế lịch sử trực tiếp khẳng định bản lĩnh của dân tộc ta.

Mở đầu, Giáo sư nhắc lại một sự kiện lịch sử, đó là phe Đức – Ý – Nhật thua phe Xô – Anh – Mỹ trong Thế chiến thứ hai. Giáo sư cho rằng không khó khăn lắm để giải thích kết cục này. Nhưng khi liên hệ với cuộc chiến tranh của Việt Nam chống Mỹ, lại không dễ dàng luận giải cho sự thất bại thảm hại của một cường quốc quân sự, trong khi sức mạnh lực lượng so sánh giữa Mỹ và Việt Nam là một trời một vực. Vậy mà cuối cùng sau hai mươi năm, Mỹ đành chịu rút quân không kèn, không trống, không anh hùng.

Tác giả đã có một sự liên tưởng thú vị mang tính so sánh giữa yếu tố thần thoại và yếu tố lịch sử (hơn nữa là lịch sử hiện đại!) – trong cuộc chiến tranh này, Việt Nam là Antée và Mỹ là Hercule (Antée và Hercule là hai nhân vật trong thần thoại Hy Lạp). Ông khổng lồ Hercule đấu với chàng dũng sĩ Antée. Khi Antée bị quật ngã, tay vừa chạm đất thì được Mẹ Đất truyền lại đủ sức mạnh, chàng tiếp tục đứng dậy đánh nữa và đánh mãi. Cuối cùng Hercule kiệt sức và chịu thua.

Rõ ràng ở đây, Giáo sư muốn gửi đến người đọc một thông điệp quý báu như một triết luận chính trị đặc sắc – nhân vật Mẹ Đất trong câu chuyện lịch sử này chính là nhân dân cả nước Việt Nam bị Mỹ xâm lược, là nhân dân thế giới yêu chuộng hòa bình, tự do. Đó cũng chính là lực lượng đại biểu cho tinh thần đại đoàn kết dân tộc và sự hợp tác giúp đỡ của quốc tế.

Giáo sư giành một phần quan trọng để phân tích luận điểm: “Chiến tranh Việt Nam” là một chiến tranh xâm lược, đã phi nghĩa lại cực kỳ tàn bạo, tàn bạo nhất xưa nay. Đây là một điều mà hầu như tất cả các chính khách Mỹ không ai dám nói đến khi bàn về cuộc chiến tranh ở Việt Nam vì đấy có lẽ là một trong số những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của đế quốc hùng cường số một thế giới này. Khi các nhà lãnh đạo Mỹ “biện minh” cho hành động xâm lược lại hóa ra là một sự thú nhận ý đồ đen tối của mình, Giáo sư dẫn lại đoạn viết trong cuốn “Trách nhiệm và báo ứng” của M.D.Taylor[ii]:

“Ta phải nhớ lại lịch sử của nước đó[iii]. Đó không phải là một dân tộc như chúng ta thường hiểu nghĩa của danh từ này. Nó chưa bao giờ có cơ hội trở thành một dân tộc. Thật ra đó là một mớ các thiểu số dựa trên chủng tộc văn hóa các miền. Do đó, trong lịch sử của nó, nó chưa bao giờ có khả năng phát triển một ý thức dân tộc và đưa chất xi-măng ém vào những kẻ hở của một xã hội được dựng lên bằng những mảnh rời rạc”.

Theo cách nói đó, chủ trương của Mỹ muốn chia cắt Việt Nam thành hai hay nhiều mảnh là phù hợp với lịch sử Việt Nam và việc đánh tan tành nước Việt Nam là việc làm không có gì khó khăn cả. Nhưng thực tế lịch sử đã chứng minh quan niệm đó là hoàn toàn sai lầm. Nhận thức được điều này, ký giả William J. Lederer[iv] cho rằng: “Mỹ lụn bại về quân sự và chính trị ở Việt Nam, một nguyên nhân lớn là không biết sự thật về lịch sử Việt Nam”.

Những gì diễn ra đã cho thấy cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là một cuộc chiến tranh tàn bạo nhất trong lịch sử cổ, kim, đông, tây. “Các nhà lãnh đạo Mỹ tin chắc rằng với cường độ chiến tranh hủy diệt đó, dân tộc Việt Nam chỉ có thể bó tay đầu hàng. Mỹ lầm! Lầm to.”- Giáo sư viết.

Thực tế lịch sử cho thấy, thắng thua lắm lúc còn tùy thuộc ở “chính nghĩa” hay “phi nghĩa”, “chí nhân” hay “cường bạo”. Lớn mạnh mà phi nghĩa, tàn bạo thì mất lòng người, mất sức chiến đấu, bị nhân loại phản đối, lên án mà trước hết là quân dân của nước mình; và ngược lại.

Giải thích sự thất bại của Mỹ trên đặc tính phi nghĩa và tàn bạo của cuộc chiến tranh là đúng mà chưa đủ; cần phải cắt nghĩa sự thất bại mà Mỹ không ngờ được bằng sự bất lực của Mỹ trong khi đối đầu với chiến tranh nhân dân của cách mạng Việt Nam.

Giáo sư phân tích và khẳng định: Mỹ thất bại không phải vì đã chiến đấu với “một tay bị trói sau lưng” như lời xảo biện của một số tướng lĩnh Mỹ. Ngoại trừ thắng lợi tạm thời và mỏng manh của chiến tranh đơn phương, Mỹ liên tiếp thất bại trong chiến tranh đặc biệt, rồi chiến tranh cục bộ, đã làm cho dã tâm xâm lược của Mỹ bị bẻ gãy. Mỹ bắt đầu xuống thang chiến tranh và chuyển sang chiến lược “phi Mỹ hóa”, “Việt Nam hóa”.

Về phía ta, sau khi liên tục giành những thắng lợi to lớn làm cho Nhà Trắng và Lầu Năm Góc hoang mang, dao động, thì phải nói rằng, với sự thắng lợi thần kỳ trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam và đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ ở Hà Nội và Hải Phòng, ta đã giành thế chủ động, bắt Mỹ phải ký Hiệp định Paris, chấp nhận chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Tháng 3/1975, quân dân ta bắt đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, mạnh như vũ bão, nhanh như sét đánh. Ngày 10/3, quân dân ta giải phóng Buôn Ma Thuột; ngày 25/3, giải phóng Huế; ngày 29/3 giải phóng Đà Nẵng; ngày 16/4, Xuân Lộc – “cánh cửa thép” của Sài Gòn bị nghiền nát; ngày 30/4, quân giải phóng tiến thẳng vào Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn đầu hàng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài hơn 20 năm kết thúc hoàn toàn thắng lợi, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tướng M.D.Taylor đã nói:

“Tất cả chúng ta đều có phần mình trong thất bại ở Việt Nam. Chẳng có gì là đẹp cả. Chúng ta không có một anh hùng nào trong cuộc chiến tranh này, mà chúng ta chỉ là một bầy ngu xuẩn, tôi cũng nằm trong bầy ngu xuẩn đó”.

Để luận chứng cho “Bản lĩnh Việt Nam”, Giáo sư quay trở lại hai sự kiện lịch sử quan trọng:

(1) - Vào thế kỷ thứ XIII, dân tộc Việt mới giành độc lập chưa bao lâu, đã phải đương đầu với quân Nguyên[v], là đệ nhất cường quốc đương thời.

Quân Nguyên tiến đánh Đại Việt đến ba lần, đều thất bại. Cả ba lần thất bại thì không thể đổ lỗi cho “may rủi” được nữa. Thất bại lần nhất năm 1257, lần hai năm 1285, lần ba năm 1286. “Bão táp sa mạc” từ đồng cỏ tràn tới bờ sông Hồng, sông Thái Bình thì bị rạp xuống.

(2) - Đến thế kỷ XX, dân tộc ta lại phải đương đầu với Mỹ, cũng là một đầu sỏ đế quốc thời bấy giờ. Cơn “bão biển” lần này dữ đội hơn gấp bội nhưng rồi cũng phải tan biến dưới chân dãy Trường Sơn sau hơn 20 năm trời bom đạn.

Cả hai lần, dân tộc Việt Nam đều thắng, thắng to! Những chiến thắng đó cũng là những vòng nguyệt quế được lịch sử nhân loại ghi nhận và trao tặng cho một dân tộc “nhỏ mà không yếu”, không hiếu chiến mà có bản lĩnh kiên cường, dám đánh và thắng cả hai đại cường quốc toàn cầu trong lịch sử.

Giáo sư viết: “Quyết không chịu bị nghiền nát như tương, mà quyết làm tất cả để trở nên rắn như thép, đó là bản lĩnh Việt Nam. Bản lĩnh này không phải dân tộc Việt Nam sinh ra đã có, mà được hình thành trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước”.

Do đó, có thể khẳng định: “Tự lực, tự cường”; “Biết đánh biết thắng”; “Lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều”; “Lấy chí nhân thay cường bạo”… là những châm ngôn hết sức phổ biến và điển hình thể hiện những đặc điểm cơ bản của bản lĩnh Việt Nam./.

 

[i] Bản lĩnh Việt Nam là tác phẩm của GS, NGND, AHLĐ Trần Văn Giàu, Nxb. Trẻ, TP.HCM, 2005.

[ii] Maxwell Davenport Taylor (1901-1987): Đại tướng, nhá ngoại giao cũa Mỹ; đồng tác giả của kế hoạch bình định miền Nam Việt Nam Staley – Taylor.

[iii] Tức là nước Việt Nam.

[iv] William J. Lederer (1912-2009): nhà văn, ký giả người Mỹ.

[v] Nhà nước Mông hình thành thế kỷ thứ XIII, đứng đầu là Thiết Mộc Chân. Năm 1211, Mông đánh chiếm Trung Đô (Bắc Kinh) của nhà Tống. Năm 1216, đánh chiếm Tân Cương. Năm 1221, đánh chiếm miền Kavkaz và vào nước Nga. Năm 1228, đánh vào Bắc Tống, đánh chiếm Đông Nga, rồi áo sang Trung Âu, đến tận thành Venice, làm cho Giáo hoàng La Mã kinh hồn. Năm 1258, tràn vào Lưỡng Hà chiếm kinh đô Bát Đa. Cũng năm đó, Mông đánh chiếm Nam Tống, làm toàn bộ nhà Tống sụp đổ. Nước Nguyên thành lập.

 

Khoa Lý luận chính trị