Chia sẻ

Những giải pháp cơ bản, cấp bách nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học ở nước ta hiện nay

10-04-2017

NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN, CẤP BÁCH

NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

                                                                                     

                                                                                TS. PHAN VĂN NHẪN

TÓM TẮT

Chất lượng giáo dục đại học ở nước ta đang là vấn đề được xã hội quan tâm và có nhiều ý kiến khác nhau. Từ đó, chất lượng đào tạo và nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo cần được đánh giá đúng, nhằm giúp cho các nhà giáo, nhà quản lý, lãnh đạo các cơ sở giáo dục và chính quyền các cấp nhận thức đúng vai trò, trách nhiệm của mình, để đề ra phương hướng, giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.

Tiếp thu ý kiến các nhà nghiên cứu, nhà quản lý giáo dục và dư luận xã hội, dưới gốc độ chất lượng đào tạo, bài viết khái quát thực trạng đào tạo và phản ảnh thực chất chất lượng đào tạo ở các trường đại học nước ta hiện nay. Từ đó, rút ra nguyên nhân và đề xuất những giải pháp cơ bản, cấp bách nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong những năm tới.

Từ khóa: Chất lượng, đào tạo, giải pháp.

1.      ĐẶT VẤN ĐỀ

Trước thực trạng số lượng sinh viên đại học ra trường thất nghiệp ngày càng tăng, các nhà nghiên cứu, quản lý giáo dục và dư luận xã hội có nhiều ý kiến khác nhau về thực trạng giáo dục đại học và nguyên nhân thất nghiệp; có ý kiến bưng bít hoặc xuyên tạc bản chất của vấn đề và đổ lỗi cho hoàn cảnh khách quan.

Từ đó, thực trạng giáo dục đại học ở nước ta hiện nay và chất lượng đào tạo đại học cần được đánh giá đúng, nhằm xác định những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo để đề ra giải pháp hầu góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại của các trường đại học cũng như với chất lượng nguồn nhân lực và yêu cầu phát triển của đất nước.

2.      NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

  1.  

2.1    KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NƯỚC TA THỜI GIAN QUA

            Tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015, tại Đại hội XII, Ban chấp hành trung ương Đảng nhận định: Chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất là giáo dục đại học và đào tạo nghề cải thiện còn chậm; thiếu lao động chất lượng cao. Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo khắc phục còn chậm, công tác đào tạo chưa gắn chặt chẽ với nhu cầu xã hội Cơ sở vật chất vẫn còn thiếu và lạc hậuĐội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu (1).

Với trách nhiệm của nhà quản lý, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ nhận xét: “Phải thấy các điều kiện đảm bảo chất lượng như hiện nay là không thể chấp nhận được. Tỷ lệ 17% giảng viên đại học đạt trình độ tiến sĩ, lớp quá đông sinh viên nên giảng viên đến dạy đại học mà như dạy phổ thông cấp 4, thì lấy đâu ra chất lượng! Từ đó, Bộ trưởng cho rằng: “Nhìn tổng thể trong hệ thống giáo dục quốc dân, có lẽ đáng báo động nhất là giáo dục nghề nghiệp, mà ở đây là giáo dục đại học” (6).

Thực ra, những năm qua, nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học có tăng, nhưng mức tăng chưa tương xứng với chỉ tiêu đào tạo và các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị… chưa đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao, nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Từ đó, Giáo sư Đào Trọng Thi nhận định: “Quy mô phát triển quá nhanh, quá mạnh, vượt qua mọi yếu tố về năng lực đào tạo như hiện nay, thì đương nhiên chất lượng sẽ giảm sút” (3). Cùng quan điểm với sư Đào Trọng Thi, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ nhận xét: “…cái yếu là nhiều trường trong số không nhiều đó chất lượng kém, hữu sinh vô dưỡng" (9). Theo ý kiến các nhà nghiên cứu giáo dục, sự tồn tại của nhiều trường đại học kém chất lượng còn xuất phát từ việc “nâng cấp” trường cao đẳng lên thành đại học trong khi đội ngũ giảng viên và trang thiết bị phục vụ nghiên cứu, giảng dạy chưa đáp ứng yêu cầu. Về thực trạng cơ sở vật chất của các trường đại học, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ nhận xét: “Trong số gần 300 trường đại học không có trường nào cho ra dáng đại học! Nhiều trường thậm chí cơ sở còn phải đi thuê. Có những trường trông như cái nhà kho, làm sao mà sáng tạo được khi mà phần lớn là phải học chay” (6) và “vùng trũng của giáo dục Việt Nam nằm ở giáo dục đại học (5).

Bên cạnh cơ sở vật chất chưa ngang tầm một trường đại học, chương trình đào tạo tuy có bổ sung, chỉnh sửa, nhưng vẫn còn lạc hậu, chắp vá và chưa gắn với nhu cầu xã hội. Nhiều nhà nghiên cứu, quản lý giáo dục chưa bằng lòng với các chương trình đào tạo hiện đang sử dụng cũng như cách xây dựng chương trình đào tạo mới. Trong khi đó, chương trình đào tạo tiên tiến còn đang thử nghiệm. Nhìn chung, từ chương trình đào tạo đến cách dạy của giảng viên phần lớn chưa khuyến khích sinh viên làm chủ công nghệ, đổi mới, sáng tạo và khởi nghiệp. Thực trạng trên được các đại biểu dự hội thảo về đào tạo và nghiên cứu kinh tế thị trường của các trường đại học nước ta tại Hà Nội, cho rằng: “Thực tế sử dụng lao động ở các doanh nghiệp cho thấy đào tạo nhân lực ngành kinh tế trong nước hiện có nhiều bất cập, hầu hết đều phải đào tạo lại. Điều này phần lớn là do cách đào tạo của các trường” (5). 

Ông Rechard Tsai, chủ tịch một tập đoàn sản xuất linh kiện xe đạp của Đài Loan, cho biết: “Doanh nghiệp chúng tôi có mặt ở Việt Nam đã 16 năm, có nhà máy sản xuất ở Việt Nam nhưng trong suốt những năm qua, chúng tôi không thể tìm kiếm được người phù hợp để làm công việc đúng chuyên môn và có năng lực tại đây. Việc tuyển dụng của chúng tôi rất khó khăn. Đa số phải tự đào tạo hoặc thuê các chuyên gia ở các nước khác…” (5).

Về đội ngũ giảng viên, ngoài các trường tóp trên, trường danh tiếng, những trường tóp giữa và tóp dưới, vừa thiếu giảng viên, vừa mất dần giảng viên do thu nhập thấp, đời sống của nhiều giảng viên rất khó khăn, họ không thể tận tâm, tận lực nghiên cứu, giảng dạy và một số giảng viên giỏi đã chuyển công tác sang các cơ quan, xí nghiệp có thu nhập cao.

Số lượng sinh viên vào đại học hàng năm khá lớn, nhưng số sinh viên học thật, chất lượng thật chưa như mong đợi. Lưu ý, mở trong một cửa sổ mới.Một nghiên cứu từ năm 2008 của PGS.TS Nguyễn Công Khanh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã chỉ ra có hơn 50% sinh viên không hứng thú học tập (8). Kết quả nghiên cứu mới đây của PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang - Trường Đại học Kinh tế quốc dân cho thấy có khoảng 50% sinh viên học đối phó và lười học (2). Cũng từ đó, sinh viên tốt nghiệp chưa tìm được việc làm ngày càng tăng. Theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, năm 2015, cả nước có trên 200.000 người có trình độ đại học trở lên thất nghiệp, đến Quý 1 năm 2016, số thất nghiệp tăng thêm 25.000 người, tỷ lệ thất nghiệp tăng khoảng 20% tổng số lao động thất nghiệp (7).

Về trách nhiệm của nhà trường đối với chất lượng đào tạo đang trong tình trạng “cha chung không ai khóc”. Mặt khác, ngoài các trường “tốp trên, các trường còn lại, tuyển sinh ngày càng khó khăn nên phải dùng nhiều giải pháp để "vơ vét" thí sinh. Từ đó, chất lượng đầu vào thấp, dẫn tới chất lượng đầu ra kém. Thêm vào đó, bộ máy quản lý phìn to và đang bị trói buộc bởi cơ chế quản lý lạc hậu…, làm hạn chế năng lực tự chủ, sáng tạo và đổi mới của các trường. Có thể nói đây là một trong những “nút thắt” cần tháo gỡ.

Một lực lượng xã hội có vai trò quan trọng đối với chất lượng đào tạo ở các trường đại học là các nhà tuyển dụng, sử dụng lao động, các cơ sở sản xuất kinh doanh v.v… Họ có thể đóng góp từ khâu xây dựng chương trình đến nghiên cứu, giảng dạy, thực tập, thực hành, việc làm của sinh viên và tham gia quản trị nhà trường. Thế nhưng, vai trò vừa nêu trên và mối quan hệ lợi ích giữa nhà trường với doanh nghiệp chưa đủ để tạo thành những điều kiện, nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.

Từ thực trạng trên có thể nói rằng việc sinh viên thất nghiệp ngày càng tăng là do chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu xã hội. Đây là nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân bao trùm của thực trạng giáo dục đại học ở nước ta hiện nay.

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng ở các nước tư bản phát triển vẫn tồn tại một đội quân thất nghiệp thường trực. Hơn nữa, ở nước ta không có một trường đại học nào đảm bảo 100% sinh viên tốt nghiệp đạt loại khá, giỏi. Vì vậy, bộ phận cử nhân, kỷ sư đạt loại trung bình thất nghiệp là việc bình thường. Chẳng hạn như Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam cho rằng: “Thất nghiệp “chỉ là trước mắt” có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên có liên quan tới chính sách phát triển kinh tế - đầu tư của đất nước, chính sách công nghệ, chính sách tuyển dụng nguồn nhân lực... chứ không phải chỉ do chất lượng đào tạo tại các trường đại học, lại càng không phải do nước ta đã thừa nguồn nhân lực có trình độ đại học”(4).

Thực trạng giáo dục đại học ở nước ta và chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản như sau:

Một là, năng lực quản lý, điều hành giáo dục đào tạo ở cấp vĩ mô và vi mô còn bất cập.

               Hiện nay, các trường đại học chịu sự quản lý của nhiều cơ quan như: Bộ Giáo dục và Đào tạo, bộ chủ quản (nếu là trường ngành), riêng các trường đại học “địa phương” còn đặt dưới sự lãnh đạo, quản lý của Ban chỉ đạo vùng, Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Giáo dục và đào tạo và các sở ngành liên quan. Bộ máy quản lý giáo dục đào tạo trực tiếp và gián tiếp khá lớn, nhưng suốt một thời gian dài, trong hoạt động quản lý ít đề cập đến chất lượng đào tạo, thậm chí các tiêu chí kiểm định chất lượng cũng hết sức chung chung. Ở các trường đại học công, bộ máy quản lý phìn to, nhiều đơn vị có liên quan đến quản lý chất lượng đào tạo, nhưng “cha chung không ai khóc”.

               Mặt khác, trong quản lý mang nặng bệnh thành tích và chủ nghĩa hình thức nên chất lượng đào tạo chưa được đánh giá đúng. Thời gian gần đây, lãnh đạo một số trường đã nhận thức được vấn đề chất lượng đào tạo. Tuy vậy, vấn đề nầy đang gặp phải nhiều rào cản và sự quản lý sơ cứng của các ngành, các cấp như: Các trường không thể thực hiện được quyền tự chủ về nhân lực để thu hút người giỏi, có năng lực giảng dạy làm giảng viên; thực hiện phân phối theo lao động và tự chủ về chuyên môn; chương trình đào tạo vẫn còn phải phụ thuộc chương trình khung của Bộ; các hoạt động tạo nguồn thu, nhằm đầu tư phát triển nhà trường đang bị trói buộc bởi cơ chế tài chính lạc hậu, sơ cứng v.v…

Công tác dự báo về nhu cầu nguồn nhân lực và nguồn đào tạo nhân lực cho từng ngành nghề, từng vùng và địa phương chưa được phổ biến. Trong khi đó, các trường thường đạo tạo những ngành nghề mà trường có năng lực, kể cả những ngành đào tạo đã bão hòa. Nhìn chung, các trường đại học đang đào tạo một cách tràn lan, không theo một quy hoạch, kế hoạch cụ thể nào. Mặt khác, với mức thu học phí thấp, để có thể duy trì hoạt động, các trường phải lấy “chỉ tiêu” bù vào khoản kinh phí đang thiếu hụt. Hệ quả là: Sinh viên gặp khó khăn trong thực hành, thực tập; nguồn nhân lực đào tạo không đáp ứng nhu cầu xã hội, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Hiện nay, trung bình mỗi tỉnh, thành phố có tới 6,6 trường đại học, cao đẳng nhưng không có đơn vị nào chịu trách nhiệm chính trong kiểm soát số lượng, chất lượng nguồn nhân lực qua đào tạo (2).

Hai là, các trường chạy theo số lượng, coi nhẹ chất lượng

Trước thực trạng nhiều ngành học bão hòa, sinh viên ra trường thất nghiệp, các trường khó tuyển sinh. Bên cạnh đó, cơ chế tự chủ tài chính nửa vời, làm cho đa số các trường đại học phải chạy theo số lượng để có thể bù đắp các khoản chi thường xuyên mà không quan tâm tới nhu cầu của xã hội. Hơn nữa, do thiếu giảng viên và trang thiết bị nên lớp học vừa đông (lý thuyết cũng như  thực hành), vừa học chay; khâu kiểm tra đánh giá quá trình học tập của sinh viên qua loa, chiếu lệ …  Tất cả đã làm cho chất lượng đào tạo kém. Chất lượng đào tạo sẽ càng tệ hại hơn, khi các trường dùng mọi cách để vơ vét thí sinh như: mở ngành mới, xét tuyển bằng học bạ trung học phổ thông, xây dựng nhiều tổ hợp xét tuyển… Việc dễ dàng vào đại học đồng nghĩa với chất lượng đầu vào thấp; chất lượng đầu vào thấp là nguyên nhân trực tiếp của chất lượng đầu ra kém.

Ba là, sơ sở vật chất và chương trình đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo

               Thực ra, ở nước ta không phải trường đại học nào cũng đủ nhân, tài, vật lực để có thể xây dựng và triển khai chương trình đào tạo tiên tiến, hiện đại, hội nhập. Nhiều trường đại học thiếu hẳn phòng học bộ môn, chỗ làm việc của giảng viên và các nhà khoa học. Chương trình đào tạo tuy đã được đổi mới, nhưng vẫn còn khá nặng nề về lý thuyết, nhẹ thực hành, thực tập; thiếu tính thực tiễn, thiếu sự gắn kết giữa lý thuyết với đời sống kinh tế - xã hội. Nội dung chương trình chưa thể hiện rõ sinh viên có thể làm được gì qua từng năm học và cả chương trình đào tạo. Cách xây dựng mang tính chắp vá, sao chép, chưa được sự đóng góp tích cực của các chuyên gia, nhà nghiên cứu và của các nhà tuyển dụng, sử dụng lao động nên chưa đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực lượng cao chất, yêu cầu cơ cấu lại nền nền kinh tế và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Đó là lý do nước ta chưa có nhiều trường đại học đảm bảo được chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội.

               Nhận xét về những sinh viên được tuyển dụng trong thời gian gần đây, ngoài các điểm yếu như thiếu thực tiễn, ngoại ngữ, tin học, kỹ năng mềm, các doanh nghiệp đều cho rằng thái độ nghề nghiệp kém. Đó còn là những yếu tố quan trọng dẫn đến việc sinh viên thất nghiệp sau khi tốt nghiệp.

Bốn là, đội ngũ giảng viên vừa thiếu vừa chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới

Hiện nay, nhiều trường tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ và đổi mới cách dạy, cách học theo tinh thần Nghị quyết 29/NQ-TW, Hội nghị Trung ương 8, Khóa XI, nhưng tinh thần, năng lực và lực lượng giảng viên chưa kịp đáp ứng. Hơn nữa, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn bất cập, cơ cấu chưa hợp lý, trình độ không đồng đều, số lượng sinh viên tăng nhanh, nhưng số lượng lẫn chất lượng giảng viên chưa tăng tương ứng. Ngoài thời gian làm việc ở trường, phần lớn thời gian còn lại, giảng viên còn tham gia giảng dạy, sản xuất kinh doanh ngoài trường; họ làm chủ hoặc làm thuê cho các cơ sở sản xuất kinh doanh, làm “quan hàm” cho các trường tư… Nhìn chung, sức lực và thời gian của họ bị chi phối nhiều bởi việc tư. Đây là nguyên nhân cơ bản làm cho chất lượng đào tạo kém. Từ đó, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cho rằng: Dạy đại học như cấp 4 thì lấy đâu ra chất lượng!” (6)

Năm là, có khoảng 50% sinh viên học đối phó và lười học

Chất lượng đào tạo kém và tình trạng thất nghiệp còn xuất phát từ phía người học. Thời gian qua, tình trạng sinh viên học đối phó, lượi học chiếm tỷ lệ khá cao. Kết quả nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang - Trường Đại học Kinh tế quốc dân cho thấy: “có khoảng 20% là các sinh viên tích cực, chăm chỉ trong học tập và có thái độ nghiêm túc; khoảng 30% là các sinh viên học bình thường; và khoảng 50% là sinh viên học đối phó và lười học”. Thế nhưng kết quả của một số ngành đưa ra con số đáng kinh ngạc, khoảng 70% bằng giỏi, điều này không những phản ánh không thật về chất lượng đào tạo mà còn ảnh hưởng tới uy tín của Nhà trường ...” (2). Lưu ý, mở trong một cửa sổ mới. Một nghiên cứu từ năm 2008 của PGS.TS Nguyễn Công Khanh, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã chỉ ra có hơn 50% sinh viên không hứng thú học tập (8).

Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy và theo dõi chất lượng đạo tạo, các số liệu trên có thể chấp nhận được. Và vấn đề đặt ra đối với lãnh đạo các trường, với giảng viên là phải chịu trách nhiệm trước thực trạng trên. Đồng thời, phải có giải pháp để sinh viên chăm học, học có kết quả tốt.

  1.  

2.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN, CẤP BÁCH NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

                      2.2.1. Xây dựng môi trường học tập đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo

Xuất phát từ những điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục đại học ở nước ta là không thể chấp nhận được, Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, ngành, địa phương có trường đại học và các bộ, ngành có liên quan cần dựa vào quy hoạch phát triển hệ thống các trường đại học và sự cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của  các trường đại học mà tập trung đầu tư, xây dựng ở đó môi trường học tập tốt, bao gồm các nội dung sau đây:

- Căn cứ Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và Khung trình độ quốc gia, Bộ giao nên giao cho các trường tự xây dựng chương trình đào tạo theo hướng tiên tiến, hiện đại, hội nhập và hấp dẫn người học.

- Tập trung đầu tư xây dựng các khu thí nghiệm, xưởng thực hành, trại sản xuất với trang bị hiện đại. Đồng thời, đảm bảo có ký túc xá, thư viện, sân chơi, bãi tập đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo.

- Xây dựng môi trường học tập, sinh hoạt lành mạnh, an ninh, an toàn, ứng xử có văn hóa; quan hệ thầy trò, bạn bè xuất phát từ trách nhiệm, tình thương, bình đẳng, dân chủ, sẳn sàng hỗ trợ nhau để giảng dạy đạt hiệu quả cao, học tập trong đổi mới và khuyến khích sáng tạo, lập thân, khởi nghiệp.

- Ứng với môi trường học tập được xem là tốt đó, phải là những lớp học tích cực, trong đó sinh viên châm chỉ học tập, giảng viên tận tâm, tận lực, tận tụy và cán bộ quản lý tâm huyết với chất lượng đào tạo.

Trước đây cũng như hiện nay, nhiều nhà giáo, nhà quản lý cho rằng sinh viên đại học đã là người lớn, nên các em đã tự giác trong việc học và chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình. Dưới góc độ chất lượng đào tạo, chúng ta có thể nhận ra rằng không thể phó mặc cho sinh viên trong quá trình học tập. Nhìn một lớp học chỉ có từ 15% đến 20% sinh viên học hành thực sự, chất lượng thật sự, thì nhà giáo, nhà quản lý nói gì, lương tâm, trách nhiệm của họ đến đâu và được cấp lãnh đánh giá ra sao? Do vậy, phải bằng nhiều cách và từ nhiều phía, để hình thành lớp học chủ động, tích cực, có nền nếp, quy củ, sinh viên học hành châm chỉ, học trong đổi mới và sáng tạo. Để làm được điều nầy, cũng như để đảm bảo chất lượng đào tạo, yêu cầu cấp thiết hiện nay là các nhà trường phải có được đội ngũ giảng viên có năng lực giảng dạy tốt, đạo đức tốt, phương pháp giảng dạy đổi mới và sáng tạo. Có thể nói rằng năng lực, đạo đức và thước đo hai phẩm chất đó của người thầy hiện nay là kết quả học tập của sinh viên.

Về bộ máy quản lý, các trường đại học hiện có rất đầy đủ các đơn vị chức năng và các trung tâm tư vấn, nhưng hiệu quả kém do thiếu tính chuyên nghiệp (không được đào tạo bài bản), thiếu phương pháp – không theo kịp yêu cầu đổi mới và thiếu quyết tâm trong quản lý. Trong đó, khâu quản lý chất lượng đào tạo vừa nhập nhằn, chồng chéo vừa bỏ ngỏ. Để nâng cao chất lượng đào tạo các cấp và bản thân từng trường đại học phải đào tạo và tự đào tạo cán bộ quản lý, chỉnh sửa, bổ sung Luật Giáo dục đại học, Quy chế đào tạo và những quy định rõ ràng, cụ thể trong công tác quản lý. Cán bộ quản lý phải là những người công minh, chính trực, linh hoạt, sâu sát sinh viên và tâm huyết với công tác quản lý của mình.

2.2.2. Từng bước thực hiện tự chủ gắn với đảm bảo năng lực quản lý, lãnh đạo nhà trường đủ mạnh

Chất lượng đào tạo đã chỉ ra rằng, các trường đại học thực hiện “tự chủ hay là tự chết”. Hiện tượng các trường đại học chết dần, chết mòn vì không được tự chủ hoặc không đủ năng lực để thực hiện tự chủ. Cả hai điều kiện nầy đều dẫn đến sự phá sản trong tương lai. Để giúp cho các trường hình thành năng lực tự chủ và từng bước thực hiện tự chủ, thì Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các bộ, ngành có liên quan và chính quyền địa phương phải tháo gỡ những “nút thắt” cho các trường trong tự chủ về nhân lực, tài lực, vật lực và chuyên môn.

Về nhân lực: Các trường hiện thừa nhiều biên chế kém năng lực, nhưng không giảm được và cũng không tuyển được người tài, người có năng lực về làm giáo dục. Nếu như các trường không tự tháo gỡ được khâu nầy một cách hợp tình hợp lý, thì chất lượng đào tạo không thể cải thiện.

Về vật lực: Thực tế cho thấy một số trường thực hiện rất tốt quyền tự chủ trong sử dụng cơ sở vật chất, nhằm tạo nguồn thu và hỗ trợ cho hoạt động đào tạo. Tuy nhiên, hầu hết tài sản của các trường đại học công đang trong tư thế “đóng băng”, gây lãng phí lớn tài sản công. Thiết nghĩ khối tài sản khá lớn của các trường học công, nếu được sử dụng tốt thì nguồn tái đầu tư cho phát triển sẽ không gặp khó khăn như hiện nay.

Về tài lực: Việc tự chủ tài chính theo cơ chế hiện hành đang tạo ra sức ỳ, sự ỷ lại và lối làm việc cầm chừng, kém chất lượng của viên chức; giảng dạy cho hết giờ, hết chương trình của giảng viên. Trước thực trạng đó, nhiều trường muốn tạo ra bước chuyển mới, mạnh mẽ về chất lượng đào tạo thông qua trả công theo lao động, nhưng gặp nhiều rào cản nên không làm được. Thậm chí học phí thu được, các trường phải nạp cho Kho bạc Nhà nước và học phí hiện nay chưa thể đảm bảo chất lượng đào tạo.

Về chuyên môn: Các trường đại học chưa hoàn toàn tự chủ trong thực hiện chương trình đào tạo. Cụ thể là nhiều trường muốn thay thế chương trình theo hướng hiện đại, hội nhập hoặc cần biên soạn lại hoặc thay thế các học phần đã lạc hậu, nhưng vẫn không thể. Do vậy, sinh viên đại học vẫn còn phải học nhảy dây, đá cầu; trên thế giới, phương tiện, khí tài phục vụ chiến tranh và cách đánh đã rất hiện đại, nhưng sinh viên vẫn còn “ôm” ngắm mãi khẩu súng CKC. Để đảm bảo chất lượng đào tạo, các trường đại học cần tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo gắn với nhu cầu nguồn nhân lực của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội và đào tạo đón đầu.

Để có thể thực hiện có hiệu quả quyền tự chủ, điều kiện tiên quyết đối với các trường là phải có bộ máy lãnh đạo đủ mạnh. Trong đó, đảng ủy phải giữ vững vai trò lãnh đạo; hội đồng trường phải thực sự là đại diện chủ sở hữu, là bộ phận quản trị; thành viên ban giám là những người giỏi chuyên môn, lãnh đạo chuyên nghiệp, sâu sát thực tiễn, có tầm nhìn xa, có đạo đức, bản lĩnh cách mạng; cán bộ lãnh đạo các đơn vị phải là những người giỏi chuyên môn, mẫn cán, năng động, sáng tạo, biết lắng nghe, biết truyền cảm hứng, quản lý theo mục tiêu kế hoạch và luôn đổi mới.

Tóm lại, trong tình hình hiện nay, tự chủ là điều kiện cần, năng lực quản lý của bộ máy nhà trường là điều kiện đủ. Thiếu một trong hai điều kiện trên cũng có nghĩa là “tự chủ hay là chết”. Đồng thời, Bộ Giáo dục và Đào tạo phải chủ trì để cùng các bộ, ngành liên quan kịp thời điều chỉnh cơ chế chính sách trong quản lý đại học như gỡ bỏ rào cản về học phí quá thấp, chế độ tiền công, tuyển dụng sử dụng lao động, chỉ tiêu tuyển sinh v.v… để đáp ứng đủ nhân lực, vật lực, tạo điều kiện nâng chất lượng học tập của sinh viên và sự phát triển bền vững của nhà trường.

2.2.3. Xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý đạt chuẩn

Nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu mang tính sống còn của nhiều trường đại học hiện nay là phải đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, phương pháp giảng dạy cho giảng viên, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, kỹ năng điều hành cho cán bộ quản lý. Đồng thời, sớm xây dựng và ban hành tiêu chuẩn giảng viên và cán bộ quản lý chuyên nghiệp, năng lực quản lý và đạo đức đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo. Lãnh đạo nhà trường phải là những người chuyên nghiệp, sâu sát thực tiễn, biết lắng nghe và có năng lực tạo ra sự thay đổi, đồng thời quản lý tốt sự thay đổi, nhưng không thoát ly mục tiêu, định hướng chiến lược và những giá trị văn hóa, đạo đức của nhà trường.

2.2.4. Đổi mới cách quản lý, cách dạy, cách học một cách mạnh mẽ, quyết liệt

Để đổi mới quản lý và quản lý mang lại hiệu quả, điều quan trọng nhất hiện nay là cần phải xác định nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như các cơ sở đào tạo là triển khai quyết liệt, hiệu quả những nội dung của Nghị quyết 29/NQ-TW về giáo dục đại học để tạo chuyển biến về chất lượng đào tạo; sớm bổ sung chỉnh sửa Luật Giáo dục đại học và các nghị định, thông tư, các quy chế, quy định và những chính sách, nhằm đảm bảo quyền tự chủ và trách nhiệm của các trường. Trong đó, áp dụng khung phạt thật nặng đối với các cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục đào tạo tổ chức đào tạo không đảm bảo chất lượng. Chẳng hạn như: Đào tạo liên thông từ Trung cấp Dược lên Đại học Dược, từ Trung cấp Cơ khí lên Đại học Cơ khí ở các trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề; những trường không có chức năng đào tạo ngành Sư phạm, nhưng thực hiện chuẩn hóa giáo viên; một số trường hợp đồng với huyện ủy, ủy ban nhân dân huyện mở lớp đại học ở nhà văn hóa, hội trường huyện ủy v.v…

Giảng viên là lực lượng cơ bản, giữ vai trò quyết định sự thành bại của quá trình đổi mới. Nếu không có được đội ngũ giảng viên có quyết tâm, tận tâm, tận lực, tận tụy trong đổi mới, thì sẽ không đạt được một kết quả nào mà còn trở thành lực lượng cản ngại, nguy hiểm đối với chất lượng đào tạo. Cùng với quyết tâm, giảng viên còn phải là người giàu năng lực và kinh nghiệm trên cơ sở chuyên ngành và liên ngành, vững vàng trong sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực, có đủ năng lực vận dụng vào thực tiễn các học phần tham gia giảng dạy. Đồng thời, không ngừng nâng cao tình độ, năng lực nghiên cứu, giảng dạy, sử dụng công nghệ mới, ngoại ngữ… trong nghiên cứu, giảng dạy. Hơn nữa, dạy học ở bậc đại học là dạy nhận thức, dạy kỹ năng, dạy cảm nhận và dạy làm người hữu dụng. Do vậy, điều quan trọng là giảng viên cần phải suy nghĩ những gì mình sẽ dạy và biến lớp học thành một nơi học tập chủ động, tích cực, làm cho sinh viên biết cách học, để tự biến đổi mình và làm phong phú mình.

Trong cách học, giá trị cốt lõi là tự học; trong việc học bao giờ cũng là tự học, không thể có ai học thay người khác được. Khi sinh viên có cách học, thói quen, ý chí tự học thì sẽ ham học, thích học, đó là điều kiện tốt để khơi dậy nội lực, khả năng vốn có của mỗi cá nhân, kết quả học tập sẽ nâng cao. Thói quen tự học được thể hiện ở mọi nơi, mọi lúc, học trên lớp, học ở nhà, học trong thư viện, tự học thông qua tài liệu, sách báo, truyền hình, phim ảnh, internet, thực tiễn đời sống và sản xuất. Căn cứ mục tiêu học tập trong đề cương chi tiết học phần, giảng viên giao nhiệm vụ mang tính chất bắt buộc để sinh viên tự học, tự nghiên cứu. Qua đó hình thành kiến thức, kỹ năng cần thiết, tình cảm, thái độ cụ thể trong từng chương, từng học phần.

Đối với sinh viên, trước hết phải chọn trường đảm bảo chất lượng để theo học. Quá trình học tập, thông qua khối lượng kiến thức được trang bị, sinh viên cần đổi mới một cách quyết liệt cách học theo hướng tự tìm kiếm, lựa chọn thông tin để vừa làm giàu kiến thức vừa rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức, trí tuệ, tư duy, thể lực và óc thẫm mỹ. Khắc phục bằng được tâm lý dựa dẫm, lười học và phải thực sự thích thú, đam mê với ngành nghề đã chọn. Rất mực quan tâm, xem trọng và tích cực thực hành, thực tập, ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn để rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng sống và phát triển ý tưởng mới vào cuộc sống.

2.2.5. Thiết lập mối quan hệ bền chặt giữa nhà trường với chính quyền các cấp, các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh, đơn vị tuyển dụng, sử dụng lao động và xã hội nói chung.

Thực tế tuyển sinh, đào tạo, xây dựng chương trình đào tạo, dự báo nguồn nhân lực và tuyển dụng sử dụng lao động những năm qua cho thấy thiếu sự gắn kết giữa nhà trường và các cơ quan hữu quan. Từ đó, đưa đến nhiều hệ lụy và sự lãng phí lớn về nhân, tài, vật lực của Nhà nước và xã hội. Riêng các đơn vị sản xuất kinh doanh sử dụng lao động qua đào tạo, nhưng chưa có nghĩa vụ hay sự “trao đổi ngang giá” với các trường đại học. Do vậy, việc thiết lập mối quan hệ bền chặt giữa nhà trường với chính quyền các cấp, các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh, đơn vị tuyển dụng, sử dụng lao động và xã hội là cấp thiết để đảm bảo cho các trường thực hiện quyền tự chủ thông qua sự kiểm tra, giám sát và góp phần trách nhiệm của toàn xã hội.

Hơn nữa, trong bối cảnh nhiều trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp ở các địa phương đã tuyển sinh nhiều năm tuyển sinh không đạt chỉ tiêu, thì sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị nêu trên để bàn về chuyển đổi ngành đào tạo, giải thể, sáp nhập hoặc chuyển thành phân hiệu các trường đại học có uy tín… để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hiện có là việc làm cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Thời gian qua, Ở Tiền Giang và một số địa phương khác đã thực hiện mô hình trường cao đẳng cộng đồng, trường đại học đa cấp, đa ngành mang lại hiệu quả cao. Các cơ quan hữu quan nên nghiên cứu để xác lập lại hệ thống trường để vừa tiết kiệm lớn ngân sách vừa đảm bảo chất lượng đào tạo.

Trước sự quan ngại về chất lượng đào tạo và tình trạng sinh viên tốt nghiệp chưa tìm được việc làm ngày càng tăng, xã hội yêu cầu các trường phải chịu trách nhiệm về kết quả đào tạo, nhưng làm làm thế nào để chất lượng đào tạo thật sự được cải thiện thì vô cùng khó khăn. Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể khác nhau mà từng trường có thể có chiến lược khác nhau. Theo đó, hệ thống giải pháp và cách làm cũng khác nhau, tuy nhiên các trường không thể thoát ly những giải pháp cơ bản, cấp bách đã được trình bày trên đây./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020, tr. 30.

Hồng Hạnh. 225.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp: Hệ quả của mở trường đại học ồ ạt. Báo dân trí ngày 31/5/2016.

Ngọc Hà. “Thất nghiệp “chỉ là trước mắt” Báo Tuổi trẻ ngày 03 tháng 03 năm 2017

Quý Hiên - Mỹ Quyên . Đào tạo chưa gắn với nhu cầu xã hội Báo Thanh Niên ngày 05/11/2016 

Quý Hiên. “Không có trường nào ra dáng đại học”. Báo Thanh Niên ngày 08/01/2017.

Thanh Hà.Trả quyền tự chủ tuyển sinh cho các trường. Báo Tuổi trẻ ngày 14 tháng 5 năm 2016.

Lê Vân, Ngân Anh. "Trường đại học không nhiều nhưng nhiều trường chất lượng kém" VietNamnet, ngày 30/12/2016.

Mai Minh. Hơn 50% sinh viên không… hứng thú học tập. Báo Dân trí ngày 25/9/2008.

 Trần Huỳnh. Quý 1-2016 có 225.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp. Báo Tuổi trẻ ngày 26/5/2016

Khoa Lý luận chính trị