20-03-2026
Sáng ngày 18/3/2026 vừa qua, Trường Đại học Tiền Giang đã tổ chức họp đánh giá kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên “Ảnh hưởng của nano curcumin chiết xuất từ nghệ (curcuma longa) bổ sung vào thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của lươn đồng (monopterus albus) giai đoạn nuôi thương phẩm”.
Đề tài do sinh viên Nguyễn Quốc Thắng - Lớp Đại học Nuôi trồng thủy sản 23 làm chủ nhiệm cùng với sự tham gia của sinh viên Phạm Phan Ngọc Trâm - Lớp Đại học Nuôi trồng thủy sản 22 và sinh viên Nguyễn Hoàng Phước - Lớp Đại học Nuôi trồng thủy sản 23, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Công Tráng - Khoa Nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm, Trường Đại học Tiền Giang.
Hội đồng xét duyệt do TS. Bùi Quang Thịnh – Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Quản lý khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế làm Chủ tịch cùng với sự tham gia của các thành viên: TS. Trương Khắc Hiếu – Phó Trưởng khoa phụ trách Khoa Khoa Nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm, ThS. Phan Thị Ngọc Duyên, ThS. Hồ Đại - Khoa Nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm, ThS. Phạm Quốc Thịnh - Phó Trưởng Phòng Quản lý Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế, Trường Đại học Tiền Giang.

Tóm tắt nội dung nghiên cứu của đề tài:
Lươn đồng (Monopterus albus) là đối tượng thủy sản được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng do thịt lươn rất giàu protein. Trong nghề nuôi thủy sản, lươn là loài dễ nuôi do khả năng thích nghi cao với môi trường, đã được thuần dưỡng nên ăn được thức ăn viên công nghiệp, khả năng tăng trưởng nhanh nên đem lại hiệu quả kinh và đã đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình nuôi. Tại vùng ĐBSCL, lươn đồng đã là một đối tượng nuôi mang lại lợi nhuận cao, nên đang được nhiều người quan tâm và phát triển mạnh mẽ ở một số tỉnh như Hậu Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang, Trà Vinh, Bến Tre. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nghề nuôi lươn đồng ở vùng ĐBSCL nói chung, đặc biệt là tại tỉnh Tiền Giang nói riêng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức to lớn như chất lượng lươn giống bị suy giảm, môi trường nước ngày càng ô nhiễm, dịch bệnh trên lươn ngày càng gia tăng. Để hạn chế tình trạng lươn chậm lớn và tăng cường sức khỏe cho lươn nuôi, giúp lươn nâng cao sức đề kháng với dịch bệnh thì người nuôi lươn đã dùng các loại thực phẩm bổ trợ như khoáng chất, vitamin, prebiotic, probiotic, chất kích thích miễn dịch, đặc biệt là các thuốc loại thảo mộc để trộn vào thức ăn cho lươn ăn. Bên cạnh đó, khi xét về các sản phẩm thảo mộc có dược tính thì nano curcumin là một sản phẩm thảo dược được chiết xuất từ củ nghệ (Curcuma longa) với kích thước nanomet theo công nghệ nano. Do có kích thước siêu nhỏ từ 30-100 nm, nano curcumin phân tán tốt trong nước, giúp thấm nhanh vào máu và nhanh chóng phát huy hiệu quả trong hỗ trợ phòng trị bệnh. Đối với nghề nuôi động vật thủy sản, đã có một vài nghiên cứu cho thấy curcumin từ củ nghệ có tác dụng kích thích tăng trưởng, giúp động vật thủy sản lớn nhanh, tăng khả năng kháng bệnh và nâng cao tỷ lệ sống cho các loài động vật thủy sản. Tuy nhiên, hiện nay, chưa có nghiên cứu nào bổ sung curcumin hay nano curcumin vào thức ăn nuôi lươn đồng (Monopterus albus) được thực hiện. Vì vậy, việc bổ sung nano cucumin vào thức ăn để đánh giá sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của lươn đồng là điều có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc bổ sung nano curcumin vào khẩu phần ăn có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của lươn. Trong suốt 105 ngày thí nghiệm, các yếu tố môi trường nước (nhiệt độ 27,9 ± 0,02°C; pH 7,58-7,69; NH₄⁺ 0,36-0,49 mg/L; NH₃ 0,01-0,02 mg/L; NO₂⁻ 0,29–0,81 mg/L) đều ổn định và nằm trong ngưỡng thích hợp cho lươn sinh trưởng, không gây ảnh hưởng bất lợi đến kết quả thí nghiệm. Về tăng trưởng, nghiệm thức NT3 (bổ sung 90 mg nano curcumin/kg thức ăn) cho kết quả cao nhất với khối lượng cuối đạt 6,40 ± 0,262 g/con, tăng khối lượng (WG) 3,77 ± 0,142 g/con và tốc độ tăng trưởng khối lượng theo ngày (DWG) 0,036 ± 0,0013 g/con/ngày, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng (p < 0,05). Đồng thời, tăng trưởng chiều dài ở NT3 cũng vượt trội với chiều dài cuối đạt 17,88 ± 0,265 cm, tăng chiều dài (LG) 3,33 ± 0,147 cm và tốc độ tăng chiều dài theo ngày (DLG) 0,032 ± 0,0013 cm/ngày. Tỷ lệ sống của lươn ở các nghiệm thức dao động từ 90,00–96,67% và không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (p > 0,05), cho thấy nano curcumin không gây ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sống sót của lươn. Về hiệu quả sử dụng thức ăn, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) thấp nhất được ghi nhận ở NT4 (0,63 ± 0,046), trong khi chi phí thức ăn (CPTA) có xu hướng giảm ở các nghiệm thức bổ sung nano curcumin so với đối chứng. Nhìn chung, kết quả cho thấy mức bổ sung nano curcumin 90 mg/kg thức ăn là phù hợp nhất để cải thiện đồng thời tăng trưởng khối lượng và chiều dài của lươn trong điều kiện thí nghiệm.
Kết quả đề tài có thể dùng tham khảo phục vụ giảng cho sinh viên ngành Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại học Tiền Giang. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu có khả năng chuyển giao cho các nông nông hộ nuôi lươn ở tỉnh Đồng Tháp và nông hộ nuôi lươn ở các tỉnh khác của vùng ĐBSCL để ứng dụng vào sản xuất nuôi lươn thương phẩm.
QUỐC THỊNH
Phòng Quản lý khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế