22-12-2025
Ngay từ khi ra đời (3/2/1930), trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng ta đã xác định con đường đấu tranh giải phóng dân tộc là dùng bạo lực cách mạng để giành chính quyền, đồng thời yêu cầu phải “tổ chức ra quân đội công nông” làm nòng cốt cho phong trào cách mạng. Luận cương chính trị tháng 10/1930 tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ “lập quân đội công nông”, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng đối với vai trò của lực lượng vũ trang.
Trong cao trào cách mạng 1930–1931, đặc biệt là phong trào Xô viết Nghệ – Tĩnh, các đội Tự vệ đỏ được hình thành từ phong trào đấu tranh của công – nông, đặt nền móng đầu tiên cho lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Những năm sau đó, nhiều tổ chức vũ trang tiếp tục ra đời như Đội du kích Bắc Sơn, các đội du kích Nam Kỳ, Cứu quốc quân…, góp phần tích lũy lực lượng, chuẩn bị cho bước phát triển mới của cách mạng.
Ngày 22/12/1944, tại khu rừng thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam – được thành lập theo Chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Người khẳng định rõ tính chất chính trị của đội quân cách mạng, nhấn mạnh vai trò tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, đồng thời đặt niềm tin vào tiền đồ vẻ vang của lực lượng vũ trang non trẻ này.
Đội gồm 34 cán bộ, chiến sĩ, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp tổ chức, lãnh đạo và chỉ huy. Ngay sau khi thành lập, Đội đã giành thắng lợi trong hai trận Phai Khắt và Nà Ngần (25–26/12/1944), tiêu diệt đồn địch, thu nhiều vũ khí, tạo tiếng vang lớn, mở đầu cho truyền thống quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 4/1945, các lực lượng vũ trang cách mạng được thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lực lượng vũ trang đã cùng toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trên phạm vi cả nước. Sau thắng lợi của cách mạng, lực lượng vũ trang cách mạng lần lượt mang tên Vệ quốc đoàn, Quân đội quốc gia Việt Nam và từ năm 1950 chính thức mang tên Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhân dân Việt Nam đã cùng Nhân dân làm nên những chiến thắng lịch sử, tiêu biểu như Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Đại thắng mùa Xuân năm 1975, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Những thắng lợi đó đã khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh của một quân đội cách mạng, từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu.
Bước vào thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng, đạt nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực.
Trước hết, Quân đội không ngừng được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu ngày càng được nâng cao; tổ chức, biên chế được điều chỉnh phù hợp; khả năng làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật mới từng bước được tăng cường, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.
.jpg)
Thứ hai, Quân đội luôn giữ vai trò nòng cốt trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Các lực lượng thường xuyên nắm chắc tình hình, chủ động xử lý hiệu quả các tình huống, bảo vệ vững chắc biên giới, biển, đảo, không gian mạng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Thứ ba, Quân đội tích cực tham gia phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh gắn với thế trận lòng dân. Hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” tiếp tục tỏa sáng trong công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả bão lũ, dịch bệnh; hỗ trợ Nhân dân phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Thứ tư, công tác đối ngoại quốc phòng được đẩy mạnh, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Việc cử lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc thể hiện trách nhiệm của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế, đồng thời khẳng định bản lĩnh, năng lực và hình ảnh tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.
Bên cạnh đó, công tác xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị tiếp tục được chú trọng. Bản lĩnh chính trị, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ được giữ vững và phát huy, bảo đảm Quân đội luôn là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Từ Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời trong gian khó đến Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay, hơn 80 năm đã trôi qua nhưng bản chất cách mạng, truyền thống anh hùng và mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân vẫn luôn được giữ vững. Phát huy những thành tựu đã đạt được, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục vững bước trên con đường xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xứng đáng là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
LÊ TÂN tổng hợp