.: Nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên :. 

Thông báo

>> xem thêm

Giới thiệu

Phòng Quản lý khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế
Địa chỉ:119, Ấp Bắc, Phường 5, TP. Mỹ Tho – Tiền Giang
Điện thoại liên hệ:
Email:

Chia sẻ

Nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên

02-07-2024

Ngày 19/06/2024, Phòng QLKHCN&HTQT đã tổ chức đánh giá kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên cấp Trường:“ Nghiên cứu khả năng ức chế sự nảy mầm hạt cỏ lồng vực nước (Echinochloa crus-galli L.) của cao chiết từ các bộ phận cây sài đất ba thùy (Wedelia trilobata L.) và cây cỏ cú (Cyperus rotundus L.)” do sinh viên Hồ Khánh Duy làm chủ nhiệm.

Cùng tham gia thực hiện đề tài còn có em Trần Hoàng Nhân, Nguyễn Anh Tú cùng lớp Đại học Công nghệ Sinh học 21, Khoa Nông nghiệp và Công nghệ Thực phẩm, dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Huỳnh Thị Huế Trang - Giảng viên Khoa Nông nghiệp và Công nghệ Thực phẩm.

Hội đồng xét duyệt do TS. Lê Hữu Hải (Khoa NN&CNTP) làm Chủ tịch cùng các thành viên khác, gồm ThS. Phan Thị Hồng Ngọc, ThS. Trần Thụy Ái Tâm, ThS. TS. Trần Ngọc Chi (Giảng viên Khoa NN&CNTP) và ThS. Lê Thị Hồng Vân – Giảng viên Phòng QLKHCN&HTQT, Trường Đại học Tiền Giang

Tóm tắt nội dung nghiên cứu của đề tài:

Quản lý cỏ dại luôn là thách thức của ngành sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam và trên toàn thế giới. Cỏ dại có thể gây hại bằng cách cản trở sự phát triển của cây trồng chính, làm giảm giá trị dinh dưỡng của đất và tạo điều kiện cho sự sinh sản của côn trùng gây hại. Cỏ dại được xem là một trong 4 nhóm dịch hại nguy hiểm nhất trên đồng ruộng cùng với sâu hại, bệnh hại. Cỏ lồng vực còn gọi là cỏ mỳ, cỏ gạo, cỏ kê là một loại cỏ nguy hiểm, phổ biến trên ruộng lúa, gây hại trên 36 loại cây trồng. Nếu không phòng trừ tốt, cỏ lồng vực cạnh tranh với cây trồng để tiếp nhận ánh sáng mặt trời, nước và chất dinh dưỡng từ đất. Điều này, có thể gây thất thu tới 40-70% năng suất lúa. Cỏ lồng vực còn là nơi trú ngụ của nhiều loại sâu, bệnh, chuột, OBV…từ đó lây lan ra phá hại lúa. Không những thế, hạt cỏ lồng vực còn lẫn với thóc khi thu hoạch, sẽ làm giảm giá trị thương phẩm của gạo sau khi xay xát. Nguy hại hơn, nếu còn lẫn trong lô hạt giống, sẽ là nguồn “cỏ giống” bổ xung cho vụ sau, gây tốm kém rất nhiều cho công tác phòng trừ (Nguyễn Thị Thu Thủy và cs, 2019). 

Trong nhiều thập niên qua, sử dụng thuốc diệt cỏ hóa học được xem là biện pháp hữu hiệu trong quản lý cỏ dại nói chung và cỏ lồng vực nước nói riêng. Biện pháp này đã đóng góp rất đáng kể vào sự phát triển của nền nông nghiệp thế giới, đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu. Tuy nhiên việc sử dụng thuốc diệt cỏ hóa học liên tục, lạm dụng với liều lượng cao đã gây ô nhiễm môi trường, suy giảm chất lượng đất, tác động tiêu cực đến hệ sinh thái và đặc biệt là ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của con người (Hussain et al., 2021). Bên cạnh đó, tình trạng kháng thuốc diệt cỏ của một số loài cỏ dại đang trở nên phổ biến và đáng báo động. Nghiên cứu của Heap (2015) đã báo cáo rằng 220 loài cỏ dại được phát hiện có khả năng kháng một hoặc nhiều loại thuốc diệt cỏ hóa học. Vì thế, việc nghiên cứu tìm ra sản phẩm diệt cỏ hiệu quả có nguồn gốc tự nhiên là hướng đi mới và rất thiết thực do các sản phẩm tự nhiên thường ít độc đối với con người, ít gây ra hiện tượng kháng thuốc, ít để lại dư lượng trong nông sản và giảm tác động xấu đến môi trường (Trần Thanh Mến và ctv, 2019).

Cây sài đất là loại cây có khả năng phát triển trong đất chứa nhiều cát, đất xốp hoặc đất đá vôi, nơi mà các loại cây khác không thể sinh sống. Cây sài đất thường có hệ thống rễ mạnh mẽ và có khả năng hấp thụ nước và cấc chất dinh dưỡng từ các lớp đất sâu bên dưới, giúp cải thiện đất. Cây sài đất 3 thùy (Wedelia trilobata L.) và cây cỏ cú (Cyperus rotundus L.) là 2 loài thực vật quen thuộc tại địa phương, có sức sống và khả năng xâm lấn mạnh mẽ. Trong các bộ phận của 2 loài thực vật này chứa đa dạng các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học bao gồm: phenolic, alkaloid, flavonoid,... Các hợp chất thứ cấp của 2 loài thực vật này được báo cáo là yếu tố có tác động gây hiện tượng ức chế sự sinh trưởng và phát triển của đối với các loài thực vật khác - hiện tượng “Allelopathy” (Quayyum et al., 2000).

Từ cơ sở trên cho thấy nghiên cứu khả năng ức chế sự nảy mầm hạt cỏ lồng vực nước  (E. crus-galli L.) của cao chiết từ các bộ phận cây sài đất 3 thùy (W. trilobata L.) và cây cỏ cú (C. rotundus L.) là cần thiết và kết quả của nghiên cứu sẽ góp phần chứng minh các hợp chất tự nhiên có khả năng kiểm soát hiệu quả cỏ lồng vực nước.

  Từ các nghiên cứu về thành phần các hoạt chất sinh học có trong các bộ phận khác nhau của cây sài đất 3 thùy và cây cỏ cú đã xác định dịch trích thu từ lá của hai loại cây trên có hiệu quả tốt trong việc ức chế sự nảy mầm của hạt và phát triển cây con cỏ lồng vực nước quy mô phòng thí nghiệm và nhà lưới. Kết quả nghiên cứu đề tài xác định được nồng độ pha loãng dịch trích là lượng dịch phun có tác dụng quản lý cỏ lồng vực nước. Các kết quả đạt được của đề tài là cơ cở cho những nghiên cứu chuyên sâu hơn trong việc ứng dụng các hoạt chất sinh học được ly trích từ thực vật quản lý đối tượng cỏ gây hại cụ thể là cây cỏ lồng vực đồng thời nghiên cứu về phương pháp xử lý thích hợp đảm bảo không ảnh hưởng đến cây trồng chính. 

Kết quả của nghiên cứu đề tài cung cấp các thông tin về tác dụng ức chế sự nảy mầm và sinh trưởng hạt cỏ lồng vực của cao chiết từ các bộ phận cây sài đất ba thùy (thân, lá, hoa) và cây cỏ cú (củ, lá, hoa).

Nội dung báo cáo khoa học đề tài là tài liệu tham khảo phục vụ việc giảng dạy và học tập các nội dung liên quan về hoạt chất sinh học trong thực vật cho giảng viên và sinh viên hai ngành Công nghệ Sinh học và Bảo vệ Thực vật của Khoa NN&CNTP, Trường Đại học Tiền Giang.

 

                                    Lê Thị Hồng Vân – Phòng QLKHCN&HTQT

 

 

 

 

Phòng Quản lý khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế