.:Trường Đại học Tiền Giang:. 


Tag

;

Chia sẻ

TÁC PHẨM “ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG” VỚI VIỆC RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CHO ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

26-04-2019

ThS. Võ Thị Diệu

  1. TÓM TẮT

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên, để Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiền phong của giai cấp và dân tộc. Trong những tác phẩm nói về đạo đức của Người, phải kể đến tác phẩm “Đạo đức cách mạng” (12/1958). Tác phẩm nói về nguồn gốc sinh ra chủ nghĩa cá nhân, để chống lại chủ nghĩa cá nhân thì phải rèn luyện, tu dưỡng và thấm nhuần sâu sắc đạo đức cách mạng. Người khẳng định, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng chủ nghĩa cá nhân, bởi nó là "kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội"[1]. Trong bối cảnh hiện nay, tác phẩm là cuốn cẩm nang quý báu giúp đảng viên chúng ta phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng nhằm góp phần xứng đáng vào công cuộc cách mạng mới.

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ    

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”[2]. Trong khi hiện nay “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...” [3]… thì việc rèn luyện đạo đức cách mạng cho đảng viên là việc làm cấp bách.

3. NỘI DUNG

3.1 Vai trò của đạo đức cách mạng

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Người cho rằng: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề… Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang"[4]. Đảng viên muốn cho dân tin, dân phục thì không phải cứ “viết lên trán hai chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức[5]. “Vì muốn giải phóng dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”[6]

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Người trăn trở với nguy cơ xa rời cuộc sống, xa rời quần chúng, rơi vào thoái hóa biến chất của Đảng. Vì vậy, Chủ tịch Người yêu cầu Đảng phải "là đạo đức, là văn minh". Người nhắc lại ý của V.I.Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người căn dặn: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân"[7].

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức trong hành động, lấy hiệu quả thực tế làm thước đo. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh luôn đặt đạo đức bên cạnh tài năng, gắn đức với tài, lời nói đi đôi với hành động và hiệu quả trên thực tế.

3.2 Thực trạng đạo đức của đảng viên hiện nay

3.2.1. Ưu điểm

Đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết, hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung. Đã có không ít những đảng viên đổ máu ngay trong thời bình, khi phải chống trả tội phạm, chống cái ác, cái xấu, thậm chí hy sinh cả tính mạng để bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân.

Ý thức tu dưỡng bản thân về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, giữ vững chủ nghĩa, ít lòng tham muốn vật chất, vượt qua những cám dỗ của danh và lợi để đưa dân tộc phát triển v.v. Điều này làm nên uy tín và ảnh hưởng của Đảng trong xã hội và trong nhân dân.

Nêu cao trách nhiệm trước cuộc sống của nhân dân, tích cực rèn luyện chuyên môn, nghiệp vụ, trau dồi phẩm chất đạo đức, thực hành dân chủ, tôn trọng pháp luật, thực hiện nghị quyết, nguyên tắc và Điều lệ Đảng. Đặc biệt là đội ngũ đảng viên tham gia công tác quản lý, lãnh đạo các cấp phát huy tốt vai trò và khả năng của mình, không ngừng nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý, điều hành, góp phần quan trọng vào sự đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị.

Đó là những người lao động giỏi, người công dân gương mẫu và người chiến sĩ tiên phong trong đổi mới.

3.2.2. Hạn chế

 Biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, phai nhạt lý tưởng, niềm tin với Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa cũng như chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chủ nghĩa cá nhân, lối sống vị kỷ, vụ lợi, chạy theo các giá trị vật chất, xem thường các giá trị tinh thần; chỉ lo vun vén cho cá nhân, mà thờ ơ, lảng tránh trách nhiệm với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân.

Tính trung thực bị suy giảm nghiêm trọng. Nói không đi đôi với làm. Đó là hiện thân của thói đạo đức giả và thường được che đậy tinh vi, kín đáo. Hậu quả là dẫn tới đảo lộn các giá trị, làm gay gắt thêm tình trạng suy đồi, làm suy yếu tổ chức.

Kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền, bằng mọi thủ đoạn để chạy chọt các mối quan hệ, tìm kiếm những liên kết lợi ích nhóm, dùng tiền bạc do tham nhũng mà có để mua chức, mua danh, bất chấp cả liêm sỉ, đạo lý.

Nạn tham nhũng tồn tại kéo dài, ngày càng diễn biến phức tạp và tinh vi, gây nên sự nhức nhối về đạo đức trong Đảng, sự phản cảm lớn nhất đối với nhân dân và xã hội.

3.2.3. Nguyên nhân

Thực trạng trên có rất nhiều nguyên nhân, xin đơn cử những nguyên nhân cơ bản sau:

Một là, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, việc quán triệt và thực hiện nghị quyết của Đảng không nghiêm.

Một số đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng mà sa vào chủ nghĩa cá nhân, lợi dụng chức vụ để “thăng quan phát tài”, địa vị của họ trở thành công cụ trục lợi. Những người đó, không có nhiều tri thức, kỹ năng chuyên môn, nhưng lại có thừa những thủ đoạn, mưu mô nhằm củng cố địa vị và tăng cường lợi ích cho bản thân. Miệng họ luôn rao giảng lý tưởng, đạo đức cách mạng nhưng bên trong lòng họ luôn tìm cách luồn lách tham ô, tham nhũng,… tìm mọi cách che đậy khuyết điểm, nịnh trên, nạt dưới, mua chuộc lòng người, kéo bè, kết phái, tranh công, đổ lỗi…

Hai là, công tác giáo dục nâng cao nhận thức đối với cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lý luận nói chung và giáo dục nâng cao ý thức thực hiện nhiệm vụ ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái đối với cán bộ, đảng viên ở một số tổ chức đảng chưa được coi trọng đúng mức; nội dung, hình thức giáo dục lạc hậu, chồng chéo, xa thực tế; năng lực, phẩm chất của một bộ phận đội ngũ giảng viên, báo cáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Vì thế, nhiều người có biểu hiện nhận thức sai lệch trong học tập lý luận chính trị. Kết quả dẫn đến là ai cũng được “học”, nhưng cái cần đạt được trong nhận thức lý luận chính trị để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ lại rất thấp.

Ba là, những sai lầm, khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ

Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận đảng viên đều bắt nguồn từ những sai lầm, khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ, từ việc quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng đến chính sách đãi ngộ … Trong thực tế, do chưa có cơ chế phù hợp trong việc phát hiện, tạo nguồn, tuyển dụng, đánh giá, sử dụng, đãi ngộ…; do sơ hở, thiếu trách nhiệm, chuyên quyền, lũng đoạn, lợi ích nhóm, “gia đình trị”… trong công tác cán bộ nên dẫn đến chuyện chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy tội, chạy tuổi… diễn ra không chỉ ở cơ sở mà còn cả ở cơ quan cấp cao của Đảng và Nhà nước. Chính vì vậy dẫn đến một bộ phận không nhỏ đảng viên kém đức, kém tài, không đáp ứng đủ những điều kiện, tiêu chuẩn của người đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý… nhưng vẫn được quy hoạch vào những vị trí quan trọng, vẫn được gửi đi đào tạo ở các trường uy tín, ở trong và ngoài nước nhằm hợp thức hóa sự thăng tiến.

Bốn là, chưa thực hiện nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình

Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng. Đấu tranh tự phê bình và phê bình là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu để các tổ chức đảng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị. Tuy nhiên, công tác này ở không ít tổ chức đảng chưa kiên quyết và thiếu hiệu quả. Thực tế cho thấy, cấp trên không trong sạch thì không thể đòi hỏi cấp dưới trong sạch, cấp trên không làm kiên quyết thì cũng không thể đòi hỏi cấp dưới làm kiên quyết, cấp trên dĩ hòa vi quý thì nhất định cấp dưới cũng theo đó mà làm. Cấp trên có khuyết điểm thì không dám chỉ ra khuyết điểm của cấp dưới. Họ sẽ tìm cách xoa dịu, che lấp khuyết điểm của người khác để khuyết điểm của mình không bị tố giác, phanh phui… Do đó, trách nhiệm và khuyết điểm liên quan đến tự phê bình và phê bình trong Đảng thuộc về người đứng đầu cơ quan.

3.3 Khuyến nghị một số giải pháp xây dựng đạo đức của cán bộ đảng viên hiện nay

Một là, đấu tranh  trừ bỏ “chủ nghĩa cá nhân”

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Thắng lợi của cách mạng không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân[8]. Đảng viên là những người chịu trách nhiệm trước Đảng, trước tập thể và nhân dân. Họ là người đại diện cho lợi ích của một tập thể, một cộng đồng. Mặt khác, Đảng ta là đảng cầm quyền nên hầu hết những người có chức, có quyền đều là đảng viên. Các chức vụ phải đi đôi với các quyền, trong đó có quyền bảo vệ các tài sản của Nhà nước và phân bổ các tài sản này theo Hiến pháp, pháp luật hoặc theo các nguyên tắc đã được thông qua. Chính đây là chỗ một số đảng viên mang nặng chủ nghĩa cá nhân có thể lợi dụng để chiếm đoạt tài sản, làm trái Hiến pháp, pháp luật, nguyên tắc và thể lệ chung. Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng đạo đức cách mạng.

Hai là, giáo dục tư tưởng“tận trung với nước, tận hiếu với dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lợi chí chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì hy sinh cả tính mạng mình cũng không tiếc.”[9], đó là “tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân[10]. Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương “tận trung với nước, tận hiếu với dân”, không một phút ngơi nghỉ mà đảng viên chúng ta cần phải học, học suốt đời. Việc đẩy mạnh công tác giáo dục và tuyên truyền tư tưởng “tận trung với nước, tận hiếu với dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay sẽ khuyến khích mỗi đảng viên tuyệt đối trung thành với lợi ích của đất nước, của nhân dân, đặt độc lập dân tộc, chủ quyền và lợi ích quốc gia lên trên hết và trước hết. Để học tập và làm theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh là người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân thì mỗi đảng viên phải luôn hoàn thành nhiệm vụ, chức trách của mình theo đúng Luật cán bộ công chức. Biểu hiện cụ thể là: Làm tốt những công việc hàng ngày, nhất là những việc liên quan trực tiếp tới đời sống của người dân.

Ba là, tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XII) về “đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ đảng viên.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đảng viên phải: “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ[11], và “vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết[12]. Vì vậy, nội dung giáo dục cần tập trung nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng; những thuận lợi, khó khăn, thách thức của thời kỳ đổi mới, quá trình hội nhập quốc tế; cảnh giác các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch… xây dựng cho cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kinh nghiệm, có kỹ năng xử lý thông tin, truyền đạt thông tin. Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm thiết thực, hiệu quả trong công việc. Chú trọng nêu gương “người tốt, việc tốt”, lấy nhân tố tích cực đẩy lùi tiêu cực; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện sa sút về tư tưởng chính trị, vô trách nhiệm, vụ lợi cá nhân, vi phạm chuẩn mực đạo đức, lối sống v.v.

Bốn là, nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện của mỗi đảng viên; thực hiện tốt công tác cán bộ

Mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tính tự giác trong rèn luyện, tu dưỡng; xem tu dưỡng, rèn luyện là trách nhiệm đối với dất nước; tích cực tham gia học tập lý luận chính trị, học tập chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Trong công việc cần hình thành thái độ nghiêm túc, trách nhiệm, cầu thị, chú trọng giải quyết tốt các mối quan hệ xã hội, đảm bảo hài hoà lợi ích tập thể và cá nhân; thực hành cần, kiệm, liêm, chính.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém[13]. Từ đó thấy rằng cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Cần phải hết sức chú ý các vấn đề tuyển chọn, huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sắp xếp, bố trí… và thực hiện các chính sách đối với cán bộ. Cần mạnh dạn đưa ra khỏi Đảng những cán bộ thoái hóa, biến chất, làm hại dân, hại nước.

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Sinh trưởng trong xã hội cũ, chúng ta ai cũng mang trong mình hoặc nhiều hoặc ít vết tích xấu xa của xã hội đó về tư tưởng, về thói quen… để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng[14]. Chính vì vậy, không thể thiếu kiểm tra, giám sát. Công việc này cần thực hiện toàn diện cả tư tưởng chính trị, phẩm chất, năng lực công tác, đạo đức, lối sống và kết quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các tổ chức trong tiến hành kiểm tra, giám sát, nhất là vai trò của Ủy ban Kiểm tra Đảng uỷ. Gắn kiểm tra, giám sát với thi hành kỷ luật Đảng; kiên quyết xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm để giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng.

Sáu là, thực hiện dân chủ thực chất trong Đảng và trong xã hội.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người[15]. Đây là giải pháp và điều kiện không thể thiếu để giáo dục, rèn luyện đạo đức cho đảng viên. Chế độ ta là chế độ dân chủ. Mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Đảng lãnh đạo nhân dân để thực hiện các mục tiêu cách mạng, nhưng nhân dân không chỉ là lực lượng của cách mạng, là mục đích phục vụ của Đảng, mà còn là cơ sở chính trị của Đảng, là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong xây dựng Đảng nói chung, cũng như việc xây dựng Đảng về đạo đức nói riêng.

4. KẾT LUẬN

Tác phẩm "Đạo đức cách mạng" của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời đã tròn 60 năm, những điều Người tâm huyết, những chỉ dẫn kịp thời của Người vẫn còn nguyên giá trị. Trong tình hình hiện nay, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII)… thì tác phẩm tiếp tục là lý luận soi đường, chỉ đạo thực tiễn công tác xây dựng đạo đức cách mạng cho đảng viên, là yếu tố quyết định để xây dựng Đảng ta xứng đáng là đạo đức, là văn minh, là đội tiền phong của giai cấp và dân tộc./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Hồ Chí Minh (2011) Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Hồ Chí Minh (2011) Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Hồ Chí Minh (2011) Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5. Hồ Chí Minh (2011) Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6. Hồ Chí Minh (2011) Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

 

 

 

[1] Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), Nxb CTQG, Hà Nội, tập 11, tr 611.

[2] Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), Nxb CTQG, Hà Nội, tập 5, tr 280.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb CTQG, Hà Nội, tr.22.

[4] Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), Nxb CTQG, Hà Nội, tập 11, tr 601.

[5] Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), Nxb CTQG, Hà Nội, tập 6, tr 16.

[6] Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), Nxb CTQG, Hà Nội, tập 5, tr 292-293.

                           

[7] Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), Nxb CTQG, Hà Nội, tập 15, tr 622.

[8] Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), Nxb CTQG, Hà Nội, tập11, tr 609.

[9] Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), Nxb CTQG, Hà Nội, tập11, tr 602.

[10] Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), Nxb CTQG, Hà Nội, tập11, tr 604.

[11] Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), Nxb CTQG, Hà Nội, tập11, tr 603.

[12] Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), Nxb CTQG, Hà Nội, tập11, tr 607.

[13] Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), Nxb CTQG, Hà Nội, tập 5, tr 280.

[14] Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), Nxb CTQG, Hà Nội, tập11, tr 601 – 602.

[15] Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), Nxb CTQG, Hà Nội, tập 10, tr 378.

Khoa Lý luận chính trị