Tag

Chia sẻ

Kỷ yếu Hội thảo Khoa học cấp Trường "Hoạt động tự học, tự nghiên cứu của SV Trường ĐHTG: Thực trạng và giải pháp" ngày 20/05/2015

11-06-2015

MỘT VÀI GIẢI PHÁP CỦA GIẢNG VIÊN

GÓP PHẦN THÚC ĐẨY VIỆC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN

TRONG QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

Ở KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TIỀN GIANG

 

         ThS Cao Phan Anh

      (Khoa Lý luận chính trị)

 

1. Hoạt động tự học của sinh viên

1.1 Hoạt động tự học

a/ Vì sao phải tự học

Khoa học hiện nay phát triển  như vũ  bão, khoảng 2 năm khối lượng kiến thức của toàn nhân loại tăng lên 2 lần, nhưng thời gian dành cho đào tạo ở hệ đại học không thay đổi. Vậy bằng cách nào để người học có thể nắm bắt được kiến thức của nhân loại mà không bị quá tải hay hụt hẫng? Nếu trước đây việc tìm kiếm tri thức là quan trọng hàng đầu trong cuộc đấu tranh sinh tồn, việc tích lũy kiến thức bằng việc nhớ là ưu tiên số một thì ngày nay khi phương tiện lưu trữ đã quá đầy đủ và thông tin thay đổi liên tục thì ưu tiên một không còn là việc nhớ mà thay bằng khả năng tiếp cận tri thức mới, khả năng vận dụng tri thức mới và làm cho nó sản sinh ra tri thức mới... Do đó, hoạt động học trở thành trung tâm của quá trình dạy - học.

Hình thức tổ chức dạy học theo học chế tín chỉ qui định hoạt động tự học của sinh viên trở thành phần bắt buộc trong đề cương chi tiết học phần và là một nội dung quan trọng trong việc đánh giá kết quả học tập. Hình thức tự học có thể không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giảng viên (GV) và sinh viên (SV); tức là GV giao nội dung để SV tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành và sẵn sàng tư vấn khi được yêu cầu. Vai trò của người dạy từ truyền thụ kiến thức một cách thụ động sẽ chuyển sang vai trò người hướng dẫn người học các quá trình tìm kiếm tri thức, gợi mở những con đường phát hiện tri thức, qua đó trau dồi khả năng độc lập tư duy và sáng tạo.

Với  quan  điểm dạy - học “lấy  người  học  làm  trung  tâm”, coi sinh viên là chủ thể của quá trình dạy và học, giảng viên không chỉ dạy những kiến thức cơ bản, mà còn hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra quá trình học của sinh viên; nhất là không làm thay người học. Sinh viên phải được khuyến khích cao độ việc chủ động tìm kiếm kiến thức, tham khảo mở rộng kiến thức qua các tài liệu sách vở, dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên. Nếu GV rèn luyện được cho người học có được phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. GV không đơn thuần đóng vai trò là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người hướng dẫn cho SV trên con đường đi tìm tri thức.

“Chỉ có thể bằng con đường tự học sinh viên mới có thể học hỏi được điều gì đó. Nhiệm vụ duy nhất của Nhà trường là tạo thuận lợi cho quá trình tự học. Nếu như không làm được điều này, Nhà trường sẽ đánh mất ý nghĩa tồn tại của mình”. (Isaac Asimov) 

 “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học của người học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.(Luật Giáo dục VN, chương I điều 4)

Quy chế đào tạo Tín chỉ số 43 (gọi tắt Quy chế 43) Khoản 3 điều 3 của quy chế 43 quy định: Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.

b/ Thực trạng tự học của SV năm thứ I- Trường Đại học Tiền Giang (ĐHTG)

Tự học là một quá trình học tập, một quá trình nhận thức không trực tiếp có thầy giáo, đó là một quá trình “lao động khoa học” vất vả hơn nhiều so với nghe thầy giáo giảng bài. Có thể nói, quá trình tự học của sinh viên đòi hỏi SV phải nỗ lực, quyết tâm, tích cực mới hy vọng đạt được mục tiêu học tập. Nếu thiếu các yếu tố đó thì sinh viên không thể đạt kết quả tốt. Đây cũng chính là điều kiện để sinh viên nâng cao chất lượng học tập của bản thân và các trường đại học nâng cao chất lượng đào tạo.

Qua khảo sát sơ bộ các lớp học phần (HP) sinh viên năm thứ nhất, đa số sinh viên đều hiểu được vai trò quan trọng của tự học. Tuy nhiên, do thói quen, do chưa biết phương pháp tự học nên sức ì và tính thụ động của sinh viên rất lớn. Từ đó, dẫn đến hoạt động tự học mang tính hình thức, đối phó với các bài kiểm tra.

Đối với các HP Lý luận chính trị (LLCT), động cơ học tập của sinh viên chủ yếu là để thi, để “trả nợ”, SV chưa thấy được vai trò, tầm quan trọng của các học phần LLCT trong việc hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận; nhiều sinh viên chưa tự giác, chưa tích cực và chưa chủ động chiếm lĩnh tri thức LLCT mà còn thụ động, phụ thuộc nhiều vào những gì GV giảng dạy, nhu cầu mở rộng hiểu biết, phát huy sáng tạo, đào sâu kiến thức LLCT không cao… Từ đó, phần nhiều sinh viên ít đọc giáo trình và rất ít khi đọc sách tham khảo. Một số ít sinh viên đọc các bài tham khảo LLCT chủ yếu trên các trang web.

Chương trình giáo dục quá tải so với thời gian tổ chức dạy- học. Kiến thức lý luận với thực tiễn còn vênh nhau quá nhiều, làm cho SV giảm bớt niềm tin và từ đó dẫn đến giảm bớt hứng thú trong học tập. Về phía GV, đa phần GV đã cố gắng đổi mới phương pháp GD, quan tâm đến việc tự học của SV nhiều hơn, nhưng do thói quen, do lúng túng trong thực hiện thao tác, quy trình đổi mới… nên việc đổi mới phương pháp GD trong thực tế chưa đạt như mong muốn. Hiện tượng GV thuyết trình một chiều, đọc chép, chiếu chép… không phải là hiện tượng hiếm thấy., GV đã vô tình góp phần trong việc hạn chế đến việc tự học của SV.

Từ thực tiễn trên, người GV có vai trò rất quan trọng trong hoạt động tự học của SV. Muốn làm tốt vai trò của mình người GV cần quan tâm thực hiện một số giải pháp sau.

2. Một số giải pháp của giảng viên góp phần thúc đẩy hoạt động tự học của SV đạt hiệu quả tốt nhất.

2.1 Xây dựng nội dung bài giảng để thúc đẩy SV tự học, GV lưu ý:

a/ nội dung một bài giảng LLCT trong hệ thống tín chỉ thường gồm 3 thành phần chính: 

- (1) Nội dung cốt lõi buộc SV phải: nhớ- biết (Nội dung 1/ND1) là những kiến thức, nguyên lý, khái niệm cơ bản, chủ yếu nhất, đòi hỏi SV phải hiểu, phải nhớ để vận dụng vào lĩnh vực chuyên môn hẹp. ND1 sẽ được GV giảng trực tiếp trên lớp.

- (2) Nội dung cần biết buộc SV phải biết vận dụng kiến thức lý luận để làm cơ sở lý luận và giải quyết những vấn đề của thực tiễn đất nước, thời đại. Nội dung 2/ND2, GV có thể giảng hoặc gợi mở trực tiếp trên lớp nhằm hướng dẫn sinh viên tự học, tự nghiên cứu ở ngoài lớp.

- (3) Nội dung nên biết buộc SV phân biệt được khái niệm, nội dung trong bài với các khái niệm khác hay khoa học khác (Nội dung 3/ND3) gồm các kiến thức khoa học liên quan đến nội dung dạy-học. Phần này SV tự học, chuẩn bị bài, làm bài tập, thảo luận nhóm, xemina, làm thí nghiệm….

Như vậy, kiến thức của mỗi môn học được phát triển thông qua những tìm tòi của người học dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của giảng viên. Nếu sinh viên không tự học thì họ mới chỉ lĩnh hội được một phần khối lượng kiến thức của môn học; và như vậy, đồng nghĩa với việc họ không đạt được yêu cầu của môn học đó.

b/ Nội dung soạn bài yếu tố quan trọng quyết định PPGD và tự học của SV

Trong đào tạo theo tín chỉ, nội dung ND2, ND3 như đã đề cập ở trên là những nội dung cơ bản của hoạt động tự học. Giảng viên cần thiết kế các nhiệm vụ tự học cụ thể cho sinh viên để họ có thể tự chiếm lĩnh được các nội dung này, đáp ứng mục tiêu và yêu cầu của từng bài học trong một khoảng thời gian định trước. Để giúp sinh viên thực hiện được nhiệm vụ tự học của mình, giảng viên cần giới thiệu đầy đủ các tài liệu bắt buộc, tài liệu tham khảo, cách thu thập, tra cứu và xử lý thông tin trong tài liệu với những hướng dẫn chi tiết, cụ thể. Bên cạnh đó, giảng viên cần tăng cường hướng dẫn, giúp đỡ sinh viên xây dựng kế hoạch tự học khoa học, hợp lý, phù hợp với điều kiện của mình để đạt tới đích một cách hiệu quả nhất. Một số công việc cụ thể của GV:

+ (1) Nội dung tự học được thể hiện thành các câu hỏi nhỏ; các chủ đề thuyết trình, xemina;  các ví dụ giúp làm rõ nội dung kiến thức; câu hỏi với tính chất ý nghĩa phương pháp luận để vận dụng vào thực tiễn cuộc sống;

+ (2) Gợi mở phương pháp giải quyết từng nội dung; chuẩn bị bài theo cá nhân hay nhóm.

+ (3) Hướng dẫn tài liệu tham khảo: Thư viện, web, sách tham khảo, báo chí…

Việc tự học trước hết là tính tự giác của SV. Nếu SV không tự học thì dù sử dụng nhiều giải pháp thì hiệu quả đạt được vẫn không như ý muốn. Để tự học đạt hiệu quả, GV cần khơi dậy ham thích của người học với môn học. Để SV ham thích thì việc soạn giảng sao cho dễ hiểu- gắn lý luận với thực tiễn (học lý luận có ý nghĩa) không giáo điều, không hô hào dạng khẩu hiệu, không có tính thuyết phục… là việc làm vô cùng quan trọng và tốn nhiều công sức của GV. Nếu GV giảng bài hấp dẫn và gắn với thực tiễn thì sẽ thu hút, lôi cuốn SV đam mê môn học thì việc tự học sẽ hiệu quả cao.

Khi soạn bài phải chuẩn bị kỹ phần nào GV sẽ giảng sâu, phần nào SV phải lên thư viện đọc sách tham khảo và phần nào phải tự học, phải thảo luận ở tổ - nhóm.

2.2 Xây dựng hệ thống câu hỏi để làm ngân hàng đề thi, GV nên lưu ý:

Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm, tự luận là những yêu cầu cụ thể về kiến thức môn học mà người học phải tự tích lũy. GV và BM khi xây dựng hệ thống câu hỏi cần chú ý:

- (1) Số lượng câu hỏi phải đảm bảo phủ kín kiến thức cơ bản trong giáo trình; cần có một tỷ lệ nhất định các câu hỏi vận dụng mà kiến thức thuộc giáo trình nhưng SV chỉ khi nghe giảng mới có thể trả lời tốt được (SV chăm đến lớp hơn);

- (2) Những nội dung cơ bản nhất, trọng tâm nhất trong chương trình vừa thể hiện bằng câu hỏi trắc nghiệm và vừa tự luận; câu hỏi tự luận phải xây dựng thành các chủ đề thảo luận trong chương trình xemina.

2.4 Một số hoạt động trên lớp của GV góp phần thúc đẩy SV tự học

 a/ Đánh giá chuyên cần bằng hình thức cho điểm

Khoản 1 điều 19 Quy chế 43 quy định điểm học phần, bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên trong qúa trình học tập; điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm chuyên cần; điểm thi giữa học phần… Quy chế 43 không khống chế buộc SV phải nghe giảng tại lớp, nhưng quy định chuyên cần có thể được đánh giá bằng cột điểm quá trình. GV nên cho điểm này để khuyến khích sinh viên đến lớp. Thực tiễn học kỳ qua, có cột điểm này tỷ lệ đến lớp nghe giảng rất cao ở tất cả các lớp.

Việc SV đến lớp nghe giảng bài phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

+ (1) Chất lượng bài giảng của GV dễ hiểu, hấp dẫn có sức thu hút SV;

+ (2) Gợi mở, định hướng giúp SV vận dụng kiến thức đã học vào lý giải các vấn đề sống động của thực tiễn một cách sinh động;

+ (3) Hướng dẫn SV tự học, tự nghiên cứu có chất lượng.

Có ý kiến cho rằng GV dạy tốt thì SV tự đến lớp nghe giảng không cần phải điểm danh. Ý kiến này có thể đúng trong một vài trường hợp, nhưng trong thực tế nhiều lúc không phải như vậy, bởi vì:

+ (1) Không phải SV nào cũng chăm học các học phần LLCT;

+ (2) Trong kiến thức LLCT giữa lý luận với thực tiễn luôn có độ vênh nên SV thấy có nhiều lý luận bất lực trước thực tiễn;

+ (3) Âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch tác động không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm của một bộ phận SV;

+ (4) Những tiêu cực của đời sống XH, của cán bộ… đã tác động và làm giảm niềm tin của SV đối với Đảng, với chủ nghĩa Mác -Lênin)

Việc sắp xếp lớp có số lượng SV quá đông, dẫn đến thái độ coi thường môn học, coi thường việc đổi mới đối với các học phần LLCT; việc lớp đông SV dẫn đến điểm danh hàng ngày rất mất thời gian, không chính xác. Khắc phục tình trạng này chúng ta nên cải tiến bằng các cách sau:

+ (1) GV chỉ cần đếm tổng số SV đến nghe giảng, sau đó GV đưa danh sách lớp cho từng SV ký tên vào danh sách trong mỗi buổi học.

+ (2) Tiết đầu tiên GV đọc danh sách và cho SV biết và nhớ số thứ tự của mình trên danh sách (Khi điểm danh hay vô điểm GV dùng số thứ tự này). Kết quả kiểm diện và khi vào điểm rất nhanh.

 

Khi bắt đầu một môn học, giảng viên cần giới thiệu và cung cấp cho sinh viên đề cương chi tiết học phần. Nội dung phổ biến cần tập trung:

- Mục đích - mục tiêu[1] môn học, nội dung chi tiết của môn học, điều kiện tiên quyết, hình thức tổ chức và phương pháp dạy - học cho từng nội dung của môn học, hình thức kiểm tra - đánh giá của từng hoạt động học tập…Qua đó, sinh viên chủ động lên kế hoạch tự học, tự nghiên cứu để thực hiện được các mục tiêu của môn học. Giảng viên cần phải tuân thủ theo đúng kế hoạch trong đề cương và yêu cầu sinh viên nghiêm túc thực hiện đề cương này.

- Trong từng nội dung của đề cương chi tiết học phần cần chỉ rõ người học cần phải đọc những tài liệu nào, thậm chí từ trang… đến trang hoặc tham khảo các tài liệu  hay các trang web… chỉ rõ tên bài, trang thứ mấy?

 

Đào tạo theo học chế tín chỉ, đòi hỏi hoạt động tự học là thành phần bắt buộc trong cơ cấu thời khóa biểu thì cần phải có các hình thức kiểm tra - đánh giá hoạt động này. Nếu giảng viên chỉ giao nhiệm vụ tự học mà không tổ chức kiểm tra, đánh giá thì hoạt động học tập này chỉ mang tính hình thức, đối phó mà không đem lại kết quả như mong muốn. Đặc biệt là trong điều kiện SV chưa có thói quen, chưa có phương pháp tự học thì vai trò của kiểm tra càng quan trọng hơn trong việc hình thành thói quen, phương pháp tự học cho SV.

Để phát huy tốt vai trò, chức năng của kiểm tra, đánh giá giảng viên phải thường xuyên đánh giá sinh viên trong suốt quá trình của môn học thông qua các hình thức kiểm tra đa dạng như:  

- (1) Kiểm tra với nội dung SV chuẩn bị bài mới: GV sử dụng các câu hỏi đã cho SV chuẩn bị ở nhà để trao đổi trước lớp. Nếu SV trả lời chứng tỏ có học thì ghi điểm cộng [+] cho mỗi lần phát biểu, tùy số lần phát biểu trong lớp GV có thể quy đổi thành điểm cộng thêm vào điểm quá trình. Hoặc tổ chức kiểm tra, chấm điểm quá trình chuẩn bị bài cũ trên các tài liệu ghi chép của SV theo yêu cầu của GV.

- (2) Kiểm tra SV chuẩn bị tự học với nội dung bài cũ:

+ (2.1) Kiểm tra bằng các câu trắc nghiệm GV cần chia số lượng câu trắc nghiệm trong mỗi chương (Hay phần đã học trong một buổi) chia làm nhiều đề khác nhau và đánh số thứ tự đề mỗi đề khoảng 12- 15 câu và in vào trang A4 để phát cho mỗi SV một đề và ½ tờ giấy làm bài trắc nghiệm (SV ngồi gần nhau có nội dung đề khác nhau) đầu hay cuối mỗi buổi học có thể yêu cầu 20-30 SV kiểm tra trắc nghiệm (Kiểm tra xong thu lại đề để kiểm tra ở lớp khác). Thời gian kiểm tra khoảng 15 phút/ lần.

 + (2.2) Kiểm tra bằng các câu tự luận:

* Sau mỗi buổi học GV cần cho SV một số câu hỏi ôn tập ngắn gọn, yêu cầu SV về nhà phải chuẩn bị bài để buổi học sau- kế tiếp tiến hành kiểm tra vấn đáp trước lớp. Nội dung thuộc về phần kiến thức bắt buộc và vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn cuộc sống;

* Sau mỗi chương, trong Đề cương chi tiết HP, Bộ môn đã ấn định nội dung chính - trọng tâm của mỗi chương và được diễn đạt bằng các câu hỏi hay các chủ đề để xemina. GV yêu cầu SV chuẩn bị và tổ chức tiến hành xemina tại lớp.  Sau khi tiến hành xemina sẽ tổ chức kiểm tra phần tự luận. Tất cả các chủ đề xemina sẽ diễn đạt dưới dạng câu hỏi ngắn gọn, có vận dụng để SV chuẩn bị. GV chia số câu hỏi của mỗi chương thành nhiều đề và trước hay sau buổi học chương kế tiếp yêu cầu 20-30 SV ở lại kiểm tra, mỗi sinh viên 01 đề, mỗi đề có thể 1-2 nội dung (tùy thuộc nội dung dài hay ngắn)- Thời gian kiểm tra khoảng 15 phút/lần.

Bất kể hình thức kiểm tra nào thì buổi học sau công bố kết quả kiểm tra để SV biết và có ý thức học chuẩn bị cho buổi học tiếp theo.

+ (2.3) Thi giữa HP nên sử dụng đề chung của BM, nhằm đảm bảo công bằng khi đánh giá SV, nếu sĩ số lớp quá đông khi thi giữa HP nên chia thành 2 đợt.

Tóm lại, đào tạo theo học chế tín chỉ yêu cầu SV phải có tính chủ động tự học rất cao và không được thụ động chờ giảng viên cung cấp tri thức như trước đây. Việc tự học của SV là một quá trình đòi hỏi sự kiên trì và nỗ lực to lớn của bản thân, không thể thành công ngay trong ngày một, ngày hai mà phụ thuộc rất lớn vào tinh thần tự giác, cố gắng vươn lên, nỗ lực chứng tỏ bản thân của mỗi SV. Đồng thời, sự hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện và tích cực tổ chức kiểm tra đánh giá của GV, nhằm tạo hỗ trợ SV hình thành phương pháp học tập đúng đắn, hình thành thói quen tự học theo học chế tín chỉ thì mới giúp quá trình dạy- học lấy người học làm trung tâm mới đạt hiệu

quả cao nhất.

 

VAI TRÒ CỦA GIẢNG VIÊN TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN. VẬN DỤNG TRONG GIẢNG DẠY HỌC PHẦN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TIỀN GIANG

ThS Lê Thị Son

(Khoa Lý luận chính trị)

TÓM TẮT

Để nâng cao năng lực tự học, ngoài ý thức và sự cố gắng nỗ lực của người học còn cần phải kể đến vai trò của người giảng viên vì theo phương pháp dạy học hiện đại với quan niệm lấy người học làm trung tâm, người giảng viên đóng vai trò là người cung cấp dịch vụ thông qua các phương pháp, các hành động hướng dẫn để kích thích người học tự tìm tòi, say mê nghiên cứu, đào sâu suy nghĩ, tranh luận, thảo luận xử lý tình huống và xây dựng kế hoạch học tập một cách hiệu quả. Bài viết bàn về vai trò, tác động của giảng viên đối với quá trình tự học của sinh viên, vận dụng trong giảng dạy học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhằm giúp sinh viên thu nhận được tri thức và kỹ năng tốt nhất.

I.ĐẶT VẤN ĐỀ

Các học phần lý luận chính trị nói chung, học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin nói riêng có vai trò to lớn trong quá trình rèn luyện lập trường tư tưởng chính trị cho sinh viên các trường cao đẳng và đại học. Do vậy, từ những năm đầu, sinh viên đã bắt đầu tiếp cận những kiến thức cơ bản nhất của những môn học này. Trường Đại học Tiền Giang từ khi thành lập đến nay vẫn luôn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng dạy và học. Khi trường chuyển từ hình thức đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ, đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng dạy và học theo hướng lấy người học làm trung tâm, phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên. Với những yêu cầu về việc nâng cao chất lượng dạy và học, bên cạnh sự nỗ lực tìm tòi, nghiên cứu, chủ động chiếm lĩnh tri thức của sinh viên thì không thể không kể đến vai trò của người giảng viên trong việc giúp sinh viên nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu của mình.

II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

            1.  Khái niệm tự học và vai trò của tự học đối với quá trình học tập, nhận thức của sinh viên

            1.1. Khái niệm tự học

            Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của người học nhằm chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo; giúp người học tìm ra tri thức mới, cách thức hành động mới bằng chính nỗ lực của bản thân.

            Trong quá trình tự học, người học có thể tự mình khám phá, tìm tòi tri thức nhằm đáp ứng nhu cầu hiểu biết, bổ sung và mở rộng tri thức ngoài chương trình được dạy ở nhà trường. Đối với sinh viên ở bậc cao đẳng, đại học, hoạt động tự học về bản chất là hoạt động nhận thức độc lập và có nhiều hình thức cũng như phạm vi rộng lớn như: tự học trên lớp với sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên, tự học ngoài lớp với sự hướng dẫn gián tiếp của giảng viên hoặc tự học một cách hoàn toàn độc lập.

            1.2. Vai trò của tự học đối với quá trình học tập, nhận thức của sinh viên

            Có thể nói, hoạt động tự học luôn giữ một vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập của người học. Tự học là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập của sinh viên, vì:

            Thứ nhất, tự học có vai trò quan trọng giúp cho sinh viên có cái nhìn đúng đắn về vị trí, vai trò của môn học trong việc tích lũy tri thức để phát triển con người toàn diện, khả năng ứng xử linh hoạt, khả năng khái quát, hình thành kỹ năng sống phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay. Tự học là cách thức học tập nhằm khai thác triệt để quỹ thời gian nhàn rỗi trong sinh viên và là cơ hội để sinh viên đào sâu suy nghĩ, nghiền ngẫm những kiến thức mà giảng viên đã hướng dẫn, giảng giải trên lớp.

            Thứ hai, tự học giúp sinh viên phát huy tính tự giác, tích cực và năng lực đọc giáo trình, sách, văn kiện, tạp chí… để tìm tòi, nghiên cứu, biến “quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” của sinh viên. Việc tự học giúp sinh viên có nếp sống kỷ luật và làm việc một cách khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, tính kiên nhẫn, óc phê phán, tạo sự hứng thú học tập, say mê và khát khao vươn tới những đỉnh cao của khoa học, sống có lý tưởng, hoài bão, dám ước mơ.

            Thứ ba, tự học giúp khơi dậy ở sinh viên năng lực tự thể hiện mình và hợp tác với các thành viên khác trong tập thể khi cùng đảm nhận nhiệm vụ thuyết trình, thảo luận do giảng viên phân công. Vì thông qua hành động hợp tác giữa các thành viên trong nhóm, sinh viên phải nỗ lực tự thể hiện mình, tức là phải tự mình giải quyết tình huống, giải quyết vấn đề; từ đó khơi dậy tính chủ động, sáng tạo, tự giác học tập, nghiên cứu và lĩnh hội tri thức, khắc phục tính thụ động của sinh viên trong quá trình học tập.

            Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là hạ thấp vai trò của giảng viên vì chính giảng viên là nhân tố có tác dụng to lớn trong việc động viên, khuyến khích và hướng dẫn sinh viên tự học một cách đúng hướng và hiệu quả khi tiếp cận nội dung cũng như phương pháp học tập của môn học.

            2. Vai trò của giảng viên trong việc nâng cao năng lực tự học của sinh viên trong giảng dạy học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin tại trường Đại học Tiền Giang

             Dạy học là một nghề sáng tạo vì người giảng viên không chỉ là người có kiến thức chuyên môn vững vàng mà còn là người rất thuần thục, nhuần nhuyễn về phương pháp và sử dụng phương pháp linh hoạt cho từng đối tượng dạy học cụ thể. Vai trò của người giảng viên đối với việc nâng cao năng lực tự học của sinh viên thể hiện ở những điểm sau:

            Thứ nhất, giảng viên là nhân tố đóng vai trò chủ đạo trong việc xác định cho sinh viên đối tượng, động cơ, mục đích học tập

            Một số sinh viên cho rằng, các học phần lý luận chính trị nói chung, học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin nói riêng là những môn học thuần túy chính trị, không liên quan gì đến chuyên môn cũng như công việc sau này nên dẫn tới động cơ học tập không cao, thái độ học tập chưa đúng đắn, học chỉ để thi cho qua, học mang tính đối phó. Vì vậy, trong buổi lên lớp đầu tiên, giảng viên cần xác định cho sinh viên những nội dung khái quát của môn học và trả lời cho được những câu hỏi: Học cái gì? Học để làm gì? Và học như thế nào?... Giảng viên cần phân tích, giúp cho sinh viên thấy được tầm quan trọng, tính thiết thực của môn học để sinh viên có động cơ và mục đích học tập đúng đắn, từ đó tạo niềm say mê, hứng thú học tập và hình thành nên mục đích tự học, tự tìm hiểu để lĩnh hội tri thức của sinh viên.

            Đối với học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong buổi lên lớp đầu tiên, giảng viên cần giới thiệu cho sinh viên đề cương chi tiết học phần của bộ môn, giới thiệu một cách khái quát nội dung của học phần và phân tích cho sinh viên hiểu được vai trò của học phần là nhằm góp phần hình thành, bồi dưỡng thế giới quan và phương pháp luận khoa học, xây dựng niềm tin và lý tưởng cách mạng cho sinh viên, trang bị những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở giúp sinh viên tiếp cận với học phần tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và các môn khoa học chuyên ngành; đồng thời định hướng cho sinh viên phương pháp học tập, nghiên cứu học phần nhằm đạt kết quả tốt nhất.

            Thứ hai, giảng viên là người hướng dẫn, phác thảo cho sinh viên xây dựng phương pháp học tập phù hợp

            Khi tiếp cận với các học phần lý luận chính trị nói chung, học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin nói riêng, sinh viên cần phải có khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống hóa thông qua việc hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật,… Điều này trái ngược với thực tiễn là đa phần thời lượng giảng dạy các học phần này là năm thứ nhất và năm thứ hai trong khóa đào tạo nên không tránh khỏi những khó khăn nhất định cho sinh viên khi tiếp thu. Nhiều sinh viên không hiểu và không thể diễn đạt được các nội dung cơ bản của môn học dẫn đến tình trạng tỏ ra chán học và kết quả học tập không cao. Vì vậy, giảng viên sẽ là người hướng dẫn cho sinh viên phương pháp tự học một cách khoa học ở các khâu: đọc hiểu giáo trình, tài liệu, cách phát hiện vấn đề khi nghiên cứu, cách ghi chép lại chuỗi thông tin có liên quan đến vấn đề cần giải quyết, cách tổng hợp thông tin thu thập được, cách đánh giá các sự kiện, dữ liệu,… Đối với những nội dung yêu cầu sinh viên phải tự nghiên cứu (được thể hiện trong đề cương chi tiết học phần của bộ môn), giảng viên cần giới thiệu những tài liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu của sinh viên, mục đích kiến thức cần đạt được qua mỗi phần nội dung, các tiêu chí và hình thức đánh giá kết quả tự nghiên cứu, tìm tòi của sinh viên để giúp quá trình tự học của sinh viên đạt kết quả tốt… Tuy nhiên, trong quá trình hướng dẫn, giảng viên cần tránh làm cho sinh viên có tư tưởng ỷ lại, dựa dẫm vào người khác.

            Cụ thể, để giúp sinh viên đọc, nghiên cứu sách, tài liệu một cách hiệu quả, giảng viên cần hướng dẫn sinh viên thực hiện những bước sau:

            - Một là, phải lựa chọn sách, tài liệu hợp lý. Khi giảng dạy, giảng viên cần giới thiệu cho sinh viên những quyển sách, tài liệu liên quan đến nội dung học phần. Tuy nhiên, bản thân sinh viên đôi khi không thể đọc hết tất cả những tài liệu đó, do đó, sinh viên nên tìm đọc những quyển sách phù hợp với kiến thức môn học, phù hợp với nội dung cần nghiên cứu nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Sinh viên trước khi tìm kiếm sách nên đặt cho mình câu hỏi: Đọc cái gì? Đọc để làm gì? để từ đó định hướng cho việc khai thác kiến thức cũng như tìm được những cuốn sách hay, phù hợp để phục vụ cho việc tự học nâng cao kiến thức. Ví dụ, khi muốn nghiên cứu về phép biện chứng duy vật, sinh viên có thể lựa chọn đọc, nghiên cứu giáo trình Triết học, giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tác phẩm kinh điển “Biện chứng của tự nhiên” của Ph.Ăngghen,… do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành.

            - Hai là, nắm vững các cách đọc sách khác nhau. Mỗi một loại sách, tài liệu có cách đọc khác nhau, đòi hỏi sinh viên cần biết cách đọc sao cho bản thân cảm thụ và hiểu rõ vấn đề của từng loại sách, tài liệu. Để đạt hiệu quả, sinh viên có thể đọc theo cách sau:

            + Đọc lướt qua một lần nhằm hiểu khái quát nội dung sách hay tài liệu như đọc trang đầu, xem mục lục, xem phần kết luận.

            + Đọc trọn cuốn sách hay tài liệu, từ đây, sinh viên có thể nhận xét, đánh giá nội dung chi tiết, văn phong, kết cấu và tự mình rút ra những điều bổ ích cho việc học tập của bản thân.

            + Đọc theo hướng trọng điểm, nghiền ngẫm kỹ những luận điểm quan trọng, những phần có liên quan đến vấn đề nghiên cứu hoặc vận dụng những điều được đọc vào giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống.

            + Bên cạnh đó, sinh viên cần chú ý đến tốc độ đọc, tức là phải học cách đọc nhanh, đọc bằng mắt, vừa đọc vừa ghi nhớ.

            Ba là, tích cực tư duy và ghi chép một các khoa học. Tư duy khi đọc sách là một phần rất quan trọng giúp sinh viên có thể hình dung ý tưởng, đối chiếu, so sánh các ý tưởng đó, từ đó phát hiện ra nội dung của cuốn sách hay tài liệu, rút ra kết luận đúng đắn về những vấn đề được nêu trong sách. Bên cạnh đó, sinh viên nên ghi lại những nội dung quan trọng, có ý nghĩa trong việc giải quyết mục đích học tập hay nhu cầu cá nhân. Đọc và ghi chép luôn đi liền với nhau, tác động bổ sung cho nhau trong quá trình tự học và hiệu quả của việc đọc sách được thể hiện ở kết quả ghi chép khi đọc.

            Thứ ba, giảng viên là chủ thể xây dựng các đề tài, chủ điểm và tổ chức tốt việc thảo luận, tranh luận đối với từng nội dung của môn học

            Có thể nói, hình thức thảo luận có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy và học (chiếm 30% thời lượng trong học phần). Bởi vì hoạt động thảo luận sẽ tạo cơ hội tối đa cho mọi thành viên trong nhóm được bộc lộ sự hiểu biết của mình, tạo nên sự dạn dĩ cho các thành viên khi tham gia phát biểu, tranh luận. Trong quá trình thảo luận, giảng viên có vai trò là người hỗ trợ, định hướng, hệ thống hóa kiến thức và khái quát hóa các kết luận sau khi các nhóm đã thuyết trình, thảo luận. Giảng viên không chỉ là người truyền thụ thông tin khoa học, chuẩn xác mà quan trong hơn là dạy cho sinh viên phương pháp suy nghĩ, phát triển khả năng tư duy khoa học, biết nêu vấn đề, nhận xét, đánh giá, phản biện và từ đó đi đến khái quát hóa nội dung. Bên cạnh đó, việc mạnh dạn đưa ra những quan điểm trái chiều của giảng viên sẽ kích thích cho sinh viên thảo luận và định hướng cho sinh viên. Tuy nhiên, liều lượng kiến thức phải sát với thực tiễn, gắn lý luận với thực tiễn, phải phù hợp với trình độ, phù hợp với chuyên ngành sinh viên đang theo học. Quá trình phân công nhiệm vụ trong việc chuẩn bị các đề tài, chủ điểm còn giúp cho sinh viên tạo dựng thói quen tổ chức, phân bổ công việc và làm việc nhóm, tương tác trong tập thể một cách hiệu quả.

            Trong giảng dạy học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, ngay từ buổi đầu lên lớp, giảng viên có thể chia lớp thành những nhóm học tập, mỗi nhóm từ 03 đến 05 sinh viên tùy theo sĩ số lớp (trong đó có một nhóm trưởng), có thể chia nhóm theo vị trí chỗ ngồi hoặc theo danh sách lớp tùy theo tình hình của lớp sao cho sinh viên làm việc nhóm đạt kết quả tốt nhất. Sau đó, phân công mỗi nhóm phụ trách một nội dung trong chương trình học (vừa có lý luận, vừa gắn với thực tiễn) đã chuẩn bị sẵn (đó là những nội dung trọng tâm của chương và bám sát theo đề cương chi tiết học phần của bộ môn) theo hình thức chỉ định hoặc bốc thăm ngẫu nhiên. Đến giờ thảo luận của nội dung nào thì nhóm phụ trách nội dung đó sẽ lên thuyết trình, các nhóm còn lại giữ vai trò phản biện. Sau đó, giảng viên nhận xét, đánh giá và kết luận vấn đề. Ví dụ, khi giảng về nội dung dân chủ (chương VIII), có thể đưa ra câu hỏi thảo luận như sau: Qua tìm hiểu về khái niệm dân chủ và những đặc trưng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, anh (chị) hãy phân tích nhận định “Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản”. Hãy cho biết xã hội ta hiện nay đã thật sự dân chủ chưa? Anh (chị) hãy nêu một số quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta thể hiện sự dân chủ. Liên hệ việc thực hiện dân chủ ở địa phương mà anh (chị) đang sống và làm việc,…

            Thứ tư, giảng viên tác động đến quá trình hình thành thói quen, kỹ năng sưu tầm, tra cứu tài liệu và sử dụng các phương tiện học tập một cách hiệu quả của sinh viên

            Xã hội hiện đại đang khiến phần lớn sinh viên rời xa việc đọc sách và chỉ chú ý đến phương tiện nghe nhìn khác. Vì vậy, vai trò của giảng viên thể hiện ở chỗ chỉ ra được việc đọc sách là phương pháp tự học rẻ tiền và hiệu quả nhất. Việc rèn luyện thói quen đọc sách là một công việc không thể tách rời trong quá trình tự học. Bên cạnh giáo trình, giảng viên có thể hướng dẫn cho sinh viên đọc thêm tài liệu ở thư viện, nhà sách, truy cập thông tin trên mạng internet và các phương tiện khác làm phong phú, đa dạng nguồn dữ liệu. Dạy cho sinh viên cách thức tổ chức, điều khiển hoạt động tự nhận thức và hình thành cho sinh viên nhu cầu thường xuyên tự học tập, tìm tòi kiến thức, trang bị cho sinh viên năng lực tổ chức lao động trí óc một cách hợp lý, làm cho sinh viên định hướng được kiến thức bài học và tự khai thác tri thức.

            Trong buổi đầu tiên lên lớp, giảng viên có thể yêu cầu mỗi sinh viên có một chiếc USB để chứa đựng những thông tin đã đọc, tổng hợp, sưu tầm tư liệu được để trình bày, báo cáo trước lớp. Cuối mỗi buổi lên lớp, giảng viên có thể yêu cầu sinh viên sưu tầm tài liệu, tư liệu liên quan đến nội dung buổi học sau (chủ yếu những tư liệu nhằm minh họa, làm rõ hơn nội dung bài học) để buổi học sau báo cáo trước lớp phần chuẩn bị của mình. Thiết nghĩ, việc làm này sẽ khuyến khích được tính tự học, tự tìm tòi nghiên cứu và rèn luyện kỹ năng sưu tầm, tra cứu tài liệu hiệu quả cho sinh viên.

            Thứ năm, giảng viên có tác động đến quá trình lập kế hoạch học tập của sinh viên

            Để tạo cho sinh viên lập kế hoạch học tập một cách khoa học, ngay từ buổi lên lớp đầu tiên lên lớp, giảng viên cần cung cấp cho sinh viên đề cương chi tiết học phần, giới thiệu giáo trình, tài liệu tham khảo, hình thức điểm danh, số lượng bài kiểm tra, hình thức thảo luận trên lớp, cách tính điểm chuyên cần, điểm kiểm tra thường xuyên, điểm thi giữa học phần, hình thức thi kết thúc học phần, hướng dẫn sinh viên tự học ở nhà… Từ đó giúp sinh viên có thể khái quát và hình thành nên kế hoạch học tập phù hợp. Vai trò của giảng viên thể hiện ở việc quán triệt cho sinh viên hiểu rõ: mọi kế hoạch phải được xây dựng dựa trên những mục tiêu cụ thể và hoàn toàn có thể phấn đấu thực hiện được. Trong đó, cần xác định nội dung nào nên giải quyết trước và vấn đề nào nên giải quyết sau. Làm như thế sẽ giúp cho sinh viên góp nhặt được những tri thức, tích lũy kết quả học tập một cách bền vững và hiệu quả.

            Tuy nhiên, việc tự học của sinh viên chỉ có kết quả tốt khi có sự theo dõi, kiểm tra và đánh giá thường xuyên của giảng viên, bởi vì chỉ thông qua kiểm tra, đánh giá mới giúp sinh viên biết rõ ưu, khuyết điểm của mình để có thể điều chỉnh hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả học tập.

            Để kiểm tra, đánh giá quá trình tự học của sinh viên, giảng viên có thể thực hiện những việc sau:

            Một là, đánh giá một cách thường xuyên trong suốt quá trình học tập. Sau mỗi buổi học, giảng viên có thể yêu cầu sinh viên chuẩn bị nội dung tự học, tự nghiên cứu ở nhà. Việc kiểm tra, đánh giá quá trình tự học của sinh viên nên được kiểm tra đều đặn vào mỗi buổi lên lớp.

            - Với việc chuẩn bị nội dung bài mới:

            + Đối với việc chuẩn bị những nội dung câu hỏi trong đề cương chi tiết học phần, giảng viên có thể giao công việc kiểm tra hàng ngày cho lớp phó học tập phụ trách. Nhóm trưởng của mỗi nhóm có nhiệm vụ báo cáo với lớp phó về công việc chuẩn bị bài mới và chịu trách nhiệm với báo cáo của mình. Lớp phó có nhiệm vụ kiểm tra tính chính xác báo cáo của các nhóm, sau đó tổng kết và báo cáo cho giảng viên. Vào mỗi buổi học, giảng viên nên dành một lượng thời gian nhất định (khoảng 3 - 5 phút) để kiểm tra công việc này, có thể kiểm tra một vài nhóm ngẫu nhiên hoặc cả lớp tùy tình hình cụ thể. Kết quả tự học này được đánh giá vào cột điểm thường xuyên.

            + Đối với việc sưu tầm tài liệu, tư liệu phục vụ cho nội dung bài mới: Khi giảng đến nội dung có yêu cầu sinh viên sưu tầm tư liệu ở nhà, giảng viên có thể yêu cầu sinh viên trình bày phần chuẩn bị của mình trước lớp (với hình thức xung phong hoặc chỉ định) và nhận xét, cho điểm. Nếu sinh viên chuẩn bị bài tốt, giảng viên ghi nhận và cộng vào điểm quá trình, ngược lại, sẽ trừ điểm đối với những sinh viên không chuẩn bị bài hoặc chuẩn bị bài chưa tốt tùy theo mức độ.

            - Với việc chuẩn bị nội dung bài cũ: Nhằm giúp cho sinh viên nhớ lại kiến thức cũ làm cơ sở tiếp cận tri thức mới cũng như để tích lũy dần kiến thức, chuẩn bị cho kỳ thi kết thúc học phần đạt kết quả tốt, giảng viên có thể kiểm tra việc chuẩn bị bài cũ của sinh viên (kiểm tra ngẫu nhiên và có lưu ý đối với những sinh viên lười học) vào đầu giờ của mỗi buổi lên lớp (khoảng 10 – 15 phút). Như vậy, bằng hình thức này, mỗi sinh viên có thể có nhiều cột điểm. Sau đó, lấy trung bình cộng của những lần kiểm tra thành một cột điểm kiểm tra thường xuyên.

            Hai là, đa dạng hóa các hình thức đánh giá nhằm đảm bảo tính hiệu quả, hiện thực. Trong quá trình kiểm tra thường xuyên, giảng viên có thể thường kiểm tra bằng nhiều hình thức khác nhau: trắc nghiệm, trả lời ngắn, tự luận, vấn đáp, báo cáo nhóm,… thậm chí trong các bài báo cáo nhóm, giảng viên cho sinh viên chất vấn trực tiếp để được tính điểm tích lũy. Với sự đa dạng về hình thức đánh giá như vậy sẽ kích thích sinh viên nâng cao năng lực tự học bằng việc chủ động thay đổi thái độ học tập từ buộc phải học sang muốn được học, muốn được khẳng định bản thân.

            Ba là, không chỉ đánh giá về kiến thức mà còn đánh giá về năng lực tự học, khả năng tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn. Trong quá trình lên lớp, giảng viên không chỉ thuần túy trao đổi với sinh viên những kiến thức trong giáo trình mà ở mỗi chương, mỗi nội dung bài học, giảng viên nên có những câu hỏi gợi mở, liên hệ với thực tiễn, đưa ra những bài tập tình huống nhằm giúp sinh viên làm quen với việc phân tích và giải quyết vấn đề, vận dụng thực tiễn,… Những sinh viên có cách giải quyết vấn đề tốt nhất sẽ được cộng vào điểm quá trình.

            Ví dụ, khi giảng về nội dung bản chất của ý thức (chương I), giảng viên có thể đưa ra câu hỏi như sau: Dựa vào bản chất của ý thức, anh (chị) hãy giải thích câu ca dao: “Khi vui non nước cũng vui/ Khi buồn, sáo thổi kèn đôi cũng buồn”, và câu cách ngôn “Cái đẹp không nằm trên đôi má hồng thiếu nữ mà trong đôi mắt của kẻ si tình”,... Hoặc với nội dung quan niệm của triết học Mác về bản chất con người, có thể đặt câu hỏi cho sinh viên ngành sư phạm giáo dục tiểu học như sau: Dựa vào quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bản chất con người, anh (chị) hãy phân tích ý nghĩa của việc xây dựng văn hóa học đường trong trường học. Là sinh viên của trường Đại học Tiền Giang, anh (chị) làm gì để góp phần xây dựng môi trường văn hóa trong nhà trường? Là giáo viên trong tương lai, anh (chị) làm gì để xây dựng môi trường thật tốt cho sự phát triển của học sinh tiểu học?,…

            Sau gần hai năm thực hiện chủ trương của Khoa Lý luận chính trị về hướng dẫn sinh viên tự học và đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, tôi nhận thấy việc thực hiện chủ trương này đối với học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong những lớp phụ trách như sau: Lúc đầu, sinh viên chưa quen với cách học theo học chế tín chỉ, còn thụ động, thiếu tích cực trong học tập. Nhưng với những yêu cầu đặt ra cho việc tự học, tự nghiên cứu cùng với sự kiểm tra, đánh giá một cách thường xuyên, chặt chẽ của giảng viên đã làm cho phần lớn sinh viên có sự chuyển biến trong quá trình học tập, có ý thức, chủ động hơn trong việc chiếm lĩnh tri thức. Tuy vẫn còn một số sinh viên vẫn chưa quen với cách học theo học chế tín chỉ, vẫn còn thụ động trong việc tiếp nhận tri thức mới nhưng tôi tin rằng cùng với sự nhiệt tình, tâm huyết của giảng viên luôn nỗ lực trau dồi chuyên môn và tìm tòi phương pháp giảng dạy tích cực nhằm kích thích tính tự giác, chủ động trong học tập, nghiên cứu của sinh viên thì chất lượng đào tạo của trường ta sẽ được nâng lên trong thời gian không xa.

            III. KẾT LUẬN

            Trong quá trình hình thành và nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên, ngoài sự cố gắng đầy ý chí, nghị lực của chính sinh viên còn có một nhân tố quan trọng từ sự tận tâm, nhiệt huyết và chu toàn trong vai trò hướng dẫn của người giảng viên. Mỗi giảng viên cần xác định cho sinh viên động cơ học tập đúng đắn, tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, xem tự học như là một tiêu chí hàng đầu trong quá trình đào tạo để hình thành phương pháp tự học, tạo nền tảng cho năng lực tự học cho sinh viên. Dạy học trên giảng đường không phải là cung cấp một khối lượng kiến thức hàn lâm kinh điển mà dạy cho người học phương pháp tiếp cận thông tin, phương pháp tư duy, xử lý thông tin để họ có thể tiếp tục học, nghiên cứu sau khi ra trường.

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Giáo dục & đào tạo (2015), Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia Nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập các môn lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng.

2. Robert J.Marzano – Debra J.Pickering – Jane E.Pollock, Các phương pháp dạy học hiệu quả, Nxb. Giáo dục Việt Nam.

3. Trần Thành (2007), Triết học với đổi mới và đổi mới nghiên cứu giảng dạy triết học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

 

 

VẤN ĐỀ TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TIỀN GIANG

VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỰ HỌC ĐỂ ĐẠT HIỆU QUẢ

 

ThS Nguyễn Hải Đăng

( Khoa Lý luận chính trị)

TÓM TẮT

Bài viết trình bày những vấn đề thực tiễn về việc tự học của sinh viên trường Đại học Tiền Giang mà trong quá trình giảng dạy trên lớp, tác giả đã gặp phải. Từ đó,  đưa ra một số biện pháp giúp cho việc tự học của sinh viên đạt kết quả tốt hơn như: vai trò của sinh viên đối với việc tự học; vai trò của giảng viên đối với quá trình tự học của sinh viên; vai trò của cố vấn học tập; phương tiện và trang thiết bị hỗ trợ cho việc tự học; vai trò của Đoàn, Hội đối với việc tự học.

I. Dẫn nhập

Giáo dục có vai trò rất quan trọng đối với công cuộc đổi mới đất nước. Trong Di Chúc, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết" [9, tập 12, tr.498]. Trên cơ sở đó, tại Đại hội X, Đảng ta khẳng định “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [2, tr.94,95]. Trong thời gian qua, Đảng ta đã tiến hành đổi mới toàn bộ nền giáo dục. Trong quá trình đổi mới, chúng ta cũng đạt được nhiều thành tựu đáng kể, Bên cạnh đó cũng còn không ít những yếu kém như “Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao còn hạn chế, chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã hội, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng giữa dạy chữ và dạy người” [3, tr. 167, 168]. Trong đó, phải đề cập đến một vấn đề đang xảy ra trong nhiều trường đại học, đó là: giáo dục theo kiểu áp đặt, bắt buộc, chưa xem việc học là tự giác của người học. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, ở bậc đại học lại xuất hiện lối đào tạo theo tín chỉ, có nhiều yếu tố đã ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, đặc biệt là tinh thần, thái độ tự học của sinh viên đã không phát huy tốt. Trong thời đại bùng nổ thông tin, thị trường lao động đòi hỏi nhà trường phải đào tạo những con người năng động, có khả năng thích ứng nhanh nhạy với biến đổi không ngừng của cuộc sống. Họ phải có khả năng tự học, tự nghiên cứu để cập nhật thông tin, nhất là khi không còn ngồi trên ghế nhà trường. Học tập suốt đời là phương châm sống của mỗi người trong thời đại chúng ta. Do đó, nhà trường phải trang bị cho người học phương pháp tự học, tự nghiên cứu. Vì vậy, nghiên cứu, phân tích và đưa ra những biện pháp thiết thực để việc tự học của sinh viên đạt kết quả tốt là một vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách của các trường đại học nói chung, trường đại học Tiền Giang nói riêng. Trong nội dung bài viết này, xin đưa ra những ý kiến về vấn đề tự học của sinh viên trường đại học Tiền Giang hiện nay và một số biện pháp để thực hiện tốt việc tự học của sinh viên.

II.Nội dung

2.1 Thực trạng vấn đề tự học, tự nghiên cứu của sinh viên đại học Tiền Giang

Qua thực tế giảng dạy, và căn cứ vào bảng điểm quá trình của các lớp, bản thân tôi thấy rằng: Đa phần sinh viên đại học Tiền Giang có tinh thần, thái độ tự học rất kém. Chỉ một số em có tinh thần và thái độ tốt. Có thể nói, trong các khoa, thì sinh viên khoa sư phạm là có tinh thần và thái độ tự giác học tập tốt vì các em là những giáo viên tương lai, các em ý thức được việc học tập của mình. Ở các khoa khác thì chỉ một số sinh viên là có thái độ học tập tốt [xem 13]. Đa số sinh viên đều hiểu được vai trò quan trọng của tự học. Tuy nhiên, do sức ì và tính thụ động của sinh viên còn rất lớn, hoạt động tự học vẫn còn mang tính hình thức, đối phó với các bài kiểm tra để có điểm quá trình và vượt qua được kỳ thi. Đến lớp thì các em đi trễ, bỏ tiết, thậm chí có em, trong suốt quá trình học chỉ đến lớp 1 hoặc 2 tiết. Hoặc có em, khi nào có kiểm tra thì đến, làm xong bài thì bỏ về. Nếu không tham dự đầy đủ số tiết, không nghe giảng thì làm sao có đủ kiến thức mà làm tốt được bài kiểm tra, đặc biệt là các môn lý luận chính trị, nội dung rất khó hiểu, thậm chí có nhiều em đến lớp đầy đủ, tập trung nghe giảng, ghi chép cẩn thận nhưng vẫn chưa hiểu được nội dung bài giảng và bị điểm thấp là chuyện thường tình. Một số em đến lớp thì lo làm việc riêng, đến lớp cho có mặt. Trong quá trình học thì không tập trung chú ý, thụ động trong việc phát biểu ý kiến và đặt câu hỏi, thậm chí có những câu hỏi rất cơ bản nhưng sinh viên thụ động, lười suy nghĩ, trả lời không biết cho xong chuyện. Khi giảng viên giao bài tập nhóm thì một số nhóm xảy ra hiện tượng chỉ có một sinh viên làm từ A đến Z đem nộp cho giảng viên nhưng trong bảng phân công thì vẫn có sự phân công công việc rõ ràng. Giảng viên cho câu hỏi về nhà yêu cầu sinh viên chuẩn bị để vào lớp giảng viên kiểm tra hoặc kêu trả lời cho điểm thì xảy ra tình trạng sinh viên mượn bài của những bạn học tốt photocopy lại, vào lớp khi được gọi thì đứng lên đọc đối phó.

Một thực tế hiện nay là sinh viên rất lười đọc sách. Mặc dù sách tham khảo đã được giảng viên hướng dẫn cụ thể ở từng nội dung bài học, trong đề cương chi tiết học phần. Có những sinh viên năm cuối chưa từng một lần đến thư viện tìm sách. Đối với bộ môn những “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”, đề cương chi tiết học phần có hướng dẫn rất rõ cho sinh viên nội dung nào là tự học, để học tốt phần tự học đó sinh viên phải đọc những tài liệu nào, trang số mấy của tài liệu; nội dung thảo luận là những nội dung nào, nhiệm vụ của sinh viên là phải làm gì để chuẩn bị cho thảo luận; trong đề cương cũng ghi rõ là thời gian nào thì kiểm tra thường xuyên, thời gian nào là thi giữa học phần, hình thức thi như thế nào… và những nội dung này được giảng viên hướng dẫn rất cụ thể cho sinh viên ngay trong buổi lên lớp đầu tiên, thậm chí yêu cầu mỗi sinh viên phải in ra mỗi người một bảng để căn cứ vào đó học cho tốt, nhưng đa phần sinh viên chỉ in ra rồi để đó, nhiều em không xem đến đề cương một lần, không biết khi nào là kiểm tra, khi nào là thi, hình thức thi là gì. Một số em trước ngày thi giữa học phần còn hỏi giảng viên hình thức thi là gì, thời gian thi bao nhiêu phút; một số em thì không làm bài thảo luận với lý do là không biết, trong khi đề cương chi tiết học phần đã có hướng dẫn ngay từ đầu. Năm học 2014 – 2015, bộ môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” thử nghiệm đầu tiên trong việc tung bộ ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cho sinh viên để sinh viên chủ động trong việc học và ôn thi. Giảng viên cũng yêu cầu sinh viên bám sát nội dung bài giảng, đọc thêm giáo trình để trả lời những câu hỏi trắc nghiệm sau tiết học, phần nào không hiểu thì có thể hỏi trực tiếp giảng viên trong thời gian lên lớp. Nhưng qua thực tế chỉ có một số sinh viên làm tốt việc này, phần còn lại các em không xem đến, không chủ động đọc và trả lời các câu hỏi trong ngân hàng, các em chờ bạn nào trong lớp học tốt làm xong thì mượn photo ra rồi theo đó mà học, mà thi. Mặc dù nội dung ngân hàng câu hỏi bám sát nội dung trong giáo trình, trong quá trình giảng bài, giảng viên đã trả lời những nội dung đó nhưng sinh viên không có ý thức tự học tốt nên bài thi giữa học phần rất nhiều em bị điểm thấp. Những điều trên cho thấy, sinh viên hiện nay rất lười đọc sách và tra cứu tài liệu có sẵn, trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như hiện nay, thì một vấn đề nữa là nhiều sinh viên lựa chọn kênh thông tin từ các trang web. Điều này là tốt nhưng vì quá lạm dụng nên đại đa số sinh viên đã bỏ lỡ một kho tàng tri thức rất có giá trị từ sách tham khảo. Ngay cả khi tra cứu tài liệu trên Internet, sinh viên cũng chưa có kỷ năng để thu thập và xử lý khối lượng thông tin đa dạng đó như thế nào để thu được những kiến thức thật sự cần thiết và có hiệu quả.

Một thực tế nữa là ở bậc đại học đào tạo theo tín chỉ, số lượng mỗi lớp học ở trường ta rất đông, có lớp có số lượng sinh viên từ 90 đến 120 sinh viên nên cũng xuất hiện một hiện tượng giảng viên giảng bài, sinh viên ở dưới thì cứ thoải mái tán gẫu hết giờ là về. Vì số lượng đông nên giảng viên rất khó quản lý hết được lớp, khó kiểm tra, nhắc nhở quá trình tự học của sinh viên. Nếu cho câu hỏi, bài tập về nhà và kiểm tra thì với số lượng sinh viên đông như vậy cũng không thể kiểm tra hết được, chỉ kiểm tra được một số em. Còn làm bài tập nhóm, nếu nhóm quá đông thì sẽ không đạt chất lượng, nếu nhóm ít người thì phải chia thành nhiều nhóm, nếu chia nhiều nhóm thì không đủ thời gian để thuyết trình và báo cáo; hơn nữa trình độ của sinh viên lại chênh lệch, ở trường ta hiện nay sinh viên cao đẳng và đại học lại học chung một chương trình, trong một lớp mà vừa có sinh viên cao đẳng, vừa có sinh viên đại học, trình độ chênh lệch như vậy sẽ ảnh hưởng đến quá trình giảng dạy và chất lượng của việc học… điều này làm mất đi tinh thần tự học và sự sáng tạo của người học. Nói đến vấn đề này Hồ Chí Minh đã từng nói: “Lớp quá đông thì dạy và học ít kết quả vì trình độ lý luận của người học chênh lệch, nên thu nhận không đều” [9, tập 6, tr.52]

Như vậy, một cách khái quát có thể thấy rằng nhiều sinh viên chưa nhận thức được đúng đắn về sự cần thiết của hoạt động tự học. Sinh viên chưa tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức cho mình mà còn thụ động, phụ thuộc nhiều vào những gì thầy dạy, không có nhu cầu mở rộng hiểu biết, phát huy tính sáng tạo, đào sâu kiến thức. Một số ít sinh viên có ý thức tự học thì kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin phục vụ nhiệm vụ học tập còn yếu. Phương pháp tự học theo kiểu đối phó, theo phong trào, học để thi vẫn là hình thức tự học phổ biến hiện nay.

2.2 Một số biện pháp giúp cho việc tự học của sinh viên đạt hiệu quả

Trước hết chúng ta cần phải hiểu và xác định đúng thế nào là tự học. Tự học (self - study) là quá trình tự giác, độc lập, tích cực, sử dụng các năng lực trí tuệ, phẩm chất của bản thân người học để người học chiếm lĩnh được tri thức của nhân loại và những kinh nghiệm lịch sử xã hội, biến những tri thức đó thành sở hữu của mình, hình thành kỹ năng, thái độ và ngày càng hoàn thiện nhân cách của bản thân[1].Theo tác giả Phạm Gia Đức, “tự học là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ yếu là tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong của con người mình”[4, tr.207]. Theo PGS.TS Đặng Xuân Hải thì tự học là  “Cần phải tích cực đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tận dụng các giờ lên lớp để hướng dẫn chi tiết, cụ thể cho việc tự học và giải đáp mọi thắc mắc của người học, giúp đỡ họ giải quyết khó khăn khi tiến hành tích lũy nội dung dạy học theo yêu cầu của môn học” [5, tr. 81]. Như vậy, tinh thần cốt lõi của dạy học theo học chế tín chỉ chính là dạy học tích cực và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người học. Dạy học tích cực hay phương pháp tích cực đều có cùng đặc điểm với tinh thần “dạy học lấy người học làm trung tâm”. Cách dạy của thầy không còn là truyền thụ một chiều, chỉ cung cấp thông tin nữa mà là dạy cách học, cách học của trò không chỉ là tích lũy kiến thức mà phải nắm lấy cách tự học [xem 6].

Về bản chất, quá trình học tập của sinh viên ở bậc đại học là quá trình nhận thức có tính nghiên cứu. Sinh viên là người đi tìm kiếm, khai thác tri thức. Khác với học sinh phổ thông, bên cạnh hoạt động chủ đạo là học tập, lĩnh hội tri thức của thầy, người sinh viên còn phải có nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu trên cơ sở tư duy độc lập. Điều này đã được thể chế hóa trong  mục 2. Điều 40 Luật giáo dục như sau: “Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọng bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng.”[10, tr.13]. Để quá trình tự học đạt hiệu quả tốt cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa sinh viên với giảng viên và một số yếu tố khác:

2.2.1 Vai trò của sinh viên đối với hoạt động tự học

Hoạt động tự học chỉ có thể thực sự đem lại hiệu quả khi có sự nỗ lực của bản thân chủ thể tham gia, đó chính là sinh viên. Khi chuyển sang phương thức đào tạo theo tín chỉ, sinh viên phải thay đổi nhận thức, xóa bỏ sức ỳ để có những phương pháp học tập tích cực, thái độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhằm thích ứng với những yêu cầu học tập mới. Trước hết sinh viên phải tự ý thực được trách nhiệm và nghĩa vụ học tập của mình, học là học cho bản thân, học để có kiến thức, học để có công việc tốt, để trở thành người có ích cho xã hội, một khi sinh viên tự ý thức được bản chất của việc tự học thì sinh viên sẽ tự giác thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mình. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì: “Nghĩa vụ là ý thức trách nhiệm của con người trước lợi ích chung của xã hội (cộng đồng, giai cấp, dân tộc) và người khác – đó là ý thức cần phải làm và mong muốn làm vì lợi ích chung của xã hội”[7, tr 23,24]. Như vậy, khi sinh viên tự ý thức được sự cần thiết của việc học tập thì sinh viên sẽ mong muốn và tự giác thực hiện tốt nghĩa vụ học tập của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Học để làm việc, làm ng­ười, làm cán bộ. Học để phụng sự  đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại” [9, tập 5, tr. 684]. Chính vì vậy mà sinh viên phải tự giác học tập chứ không được ỷ lại vào thầy Người cũng yêu cầu “không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập” [9, tập 6, tr  50]. Trong quá trình học tập thì người học phải tự xác định mục tiêu và phương hướng cho mình, phải tự học là chính, phải dựa vào bản thân mình, giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, truyền tải tri thức cơ bản nhất mà thôi, ngoài việc học trên lớp phải biết tìm tòi, học hỏi mọi lúc, mọi nơi  cho nên “Về cách học, phải lấy tự học làm cốt” [9, tập 5, tr. 273].

Một số nhiệm vụ chính của sinh viên đối với hoạt động tự học như sau:

- Nắm vững mục tiêu của học phần và mục tiêu của từng bài học (được mô tả khá kỹ trong đề cương chi tiết học phần được cung cấp khi bắt đầu học phần) để làm cơ sở xây dựng kế hoạch tự học phù hợp và nghiêm túc thực hiện kế hoạch đó.

          - Đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu trước giờ lên lớp: đọc tài liệu, làm các bài tập, bài kiểm tra, thảo luận nhóm theo yêu cầu của giảng viên. Sinh viên phải tự giác tự mình thực hiện, không được sao chép từ bạn bè nhằm đối phó với giảng viên, một lần tự học, tự nghiên cứu là bản thân đã hệ thống được nội dung học trên lớp và có thêm những tri thức mới. Nói về vấn đề này, Khổng Tử đã từng nói: “Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ - Ôn điều cũ để biết điều mới, có thể làm thầy người ta vậy”[8, tr.225]. hay: “Học nhi bất cập, do khủng thất chi – phải ráng sức mà học, dường như mình chẳng kịp theo người, chỉ sợ mình bị tụt lại sau” [8, tr 388].  Hồ Chí Minh trong thư  gửi "Quân nhân học báo" (4-1949)  đã nói: Muốn biết thì phải thi đua học. Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm”. [9, tập 5, tr. 588].

- Trong quá trình tự học, sinh viên cần suy nghĩ, sáng tạo và mạnh dạn đưa ra những ý kiến, nhận xét, thắc mắc của mình mà không quá phụ thuộc vào tài liệu và những bài giảng của giảng viên, tức yêu cầu phải phát huy cao độ tính tích cực chủ động sáng tạo của người học, sinh viên tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt, hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Mọi người được hoàn toàn tự do phát biểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng cũng vậy. Song không được nói gàn, nói vòng quanh” [9, tập 7, tr. 456]. Người còn dạy “đối với mọi vấn đề, thầy và trò cùng nhau thảo luận… Điều gì chưa thông suốt thì bàn cho thông suốt. Dân chủ nhưng trò phải kính thầy, thầy phải quý trò, chứ không phải cá đối bằng đầu” [10, tập 7, tr.456]. Còn Khổng Tử thì nói: “Học mà không suy nghĩ ắt mờ tối, suy nghĩ mà không học hỏi ắt mệt mỏi ”[8, tr.227], khi học trò học mà không tìm tòi, suy nghĩ, không sáng tạo thì Khổng Tử cũng không dạy cho Ông nói: “Chỉ cho một góc, mà không suy ra ba góc kia, ắt ta không nói lại nữa”[8, tr. 347]. Tại điều 28.2 Luật Giáo dục đã nêu: Phương pháp giáo dục hiện nay là phải “Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh" [10, tr.8].

2.2.2 Vai trò của giảng viên đối với hoạt động tự học của sinh viên

Giảng viên đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong việc định hướng và kích thích ý thức tự học cho sinh viên. Không phải giảng viên chỉ có nhiệm vụ quan trọng trong những giờ lên lớp còn những giờ tự học, tự nghiên cứu của sinh viên thì không cần can thiệp. Ngược lại, đối với hoạt động tự học của sinh viên, giảng viên phải quan tâm hơn. Đối với hoạt động tự học, giảng viên cần kịp thời tư vấn khi sinh viên cần.

     Một số nhiệm vụ chính của giảng viên đối với hoạt động tự học của sinh viên:

- Giúp sinh viên nắm được đề cương chi tiết học phần. Khi bắt đầu một học phần, giảng viên cần giới thiệu và cung cấp cho sinh viên đề cương của học phần đó. Nội dung của đề cương bao gồm: Mục tiêu học phần, nội dung chi tiết của học phần, điều kiện tiên quyết, hình thức tổ chức và phương pháp dạy - học cho từng nội dung của học phần, hình thức kiểm tra - đánh giá của từng hoạt động học tập…Qua đó, sinh viên chủ động lên kế hoạch tự học, tự nghiên cứu để thực hiện được các mục tiêu của môn học. Giảng viên cần phải tuân thủ theo đúng kế hoạch trong đề cương và yêu cầu sinh viên nghiêm túc thực hiện đề cương này.

- Xác định rõ nội dung tự học và phương tiện để thực hiện nội dung đó. Để giúp sinh viên thực hiện được nhiệm vụ tự học của mình, giảng viên cần giới thiệu đầy đủ các tài liệu bắt buộc, tài liệu tham khảo, cách thu thập, tra cứu và xử lý thông tin trong tài liệu với những hướng dẫn chi tiết, cụ thể bởi vì sinh viên có thể đọc giáo trình, tài liệu trước nhưng không có sự hướng dẫn của giảng viên thì chất lượng đọc - hiểu rất hạn chế. Hướng dẫn học tập không chỉ bằng lời nói âm thanh của giảng viên trên lớp, bởi rất có thể “lời nói gió bay”, nhất là đối với những người ý thức học tập chưa cao và cuối giờ học, tâm thế thường kém tập trung. Do vậy cần tường minh hóa, song song với từng bài, từng tuần cần thiết kế hệ thống câu hỏi hoặc chỉ dẫn giúp sinh viên tự tìm hiểu bài trước khi dự học ở lớp. Có thể cuối bài trước chuyển cho sinh viên câu hỏi hướng dẫn tự học cho bài sau. Sinh viên sẽ hoàn toàn chủ động trong việc bố trí thời gian tự học trên nội dung yêu cầu của giảng viên. Trong hướng dẫn học cần chỉ rõ cá nhân làm việc với nhiệm vụ gì, nhóm cần chuẩn bị gì, từ đó họ phân công nhiệm vụ, tìm tài liệu, tập trình bày... Sinh viên là đối tác của việc dạy, là chủ nhân của việc học. Nếu sinh viên đến trường dự học mỗi tiết học bắt đầu từ “mốc số không”, vào giờ mới bắt đầu khởi động thì đó là học tập bị động, kém chủ động. Nếu sinh viên được rèn luyện kĩ năng tự học, rèn phong cách học tập tích cực, chủ động thì khi đến lớp sẽ học tập trong tâm thế chủ động, không phải mất thời gian vào “làm quen” với bài học mới, sinh viên có thể nhanh chóng nắm bắt kiến thức mới, có thể dễ dàng hơn khi trả lời các câu hỏi của giảng viên so với khi chưa suy nghĩ, chưa tiếp cận vấn đề, có thể tự trình bày những nội dung đã nghiên cứu trước ở nhà và có thể phản biện các nội dung của bạn trình bày.

- Kiểm tra - đánh giá hoạt động tự học của sinh viên. Nếu giảng viên chỉ giao nhiệm vụ tự học mà không tổ chức kiểm tra, đánh giá thì hoạt động học tập này chỉ mang tính hình thức, đối phó mà không đem lại kết quả như mong muốn. Giảng viên thường xuyên đánh giá sinh viên trong suốt quá trình của môn học thông qua các hình thức kiểm tra đa dạng như bài tập cá nhân (tuần); câu hỏi củng cố kiến thức; bài tập lớn (học kỳ thông thường là một bài tổng luận về môn học). Trước khi dạy học bài mới, giảng viên cần tổ chức cho sinh viên báo cáo kết quả tự học bằng việc thuyết trình trước lớp; dành khoản 15 phút để kiểm tra nội dung tự học của sinh viên có thể kiểm tra giấy bằng cách gọi ngẫu nhiên một số sinh viên, cũng có thể vấn đáp với sinh viên trước lớp và cho điểm trực tiếp điều này sẽ hình thành cho sinh viên cách làm việc nghiêm túc, tính tích cực và ý chí phấn đấu vươn lên để đạt kết quả cao trong học tập.

2.2.3 Phương tiện và trang thiết bị hỗ trợ cho việc tự học

Hoạt động tự học của sinh viên không thể thực hiện tốt nếu không đảm bảo các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất: phòng học, trang thiết bị học tập, nguồn học liệu… Trong đó hệ thống nguồn học liệu đầy đủ về số lượng, phong phú về nội dung và chuẩn mực về chất lượng là một yêu cầu không thể thiếu trong hoạt động tự học của sinh viên. Vì vậy cần phải:

- Củng cố, nâng cấp, mở rộng hệ thống phòng học, phòng thí nghiệm - thực hành - thực tập, thư viện; bám sát yêu cầu của các đề cương chi tiết học phần để chuẩn bị các học liệu được coi là bắt buộc ghi trong đề cương.

- Tăng cường khả năng khai thác các tiện ích của mạng nội bộ, mở rộng nguồn tư liệu điện tử, thiết bị dạy học… bằng cách ứng dụng các thành tựu công nghệ thông tin hiện đại.

- Lớp học quá đông cũng ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên. Vì vậy, cần sắp xếp và bố trí mỗi lớp học có số lượng từ 60 -70 sinh viên là phù hợp cho việc dạy và học.

2.2.4 Vai trò của cố vấn học tập đối với hoạt động tự học

Cố vấn học tập đóng một vai trò rất quan trọng đối với quá trình tự học của sinh viên, để quá trình tự học đạt hiệu quả tốt thì phải nâng cao vai trò của cố vấn học tập vì họ là người: tư vấn cho sinh viên để sinh viên tự tổ chức và kiểm soát tốt nhất tiến trình học tập của mình, giúp sinh viên thực hiện được mục tiêu học tập của mình; hướng dẫn sinh viên lên kế hoạch học tập cho phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo của trường; hướng dẫn sinh viên về phương pháp học tập, nghiên cứu và thường xuyên theo dõi kết quả học tập của sinh viên; nhắc nhở sinh viên khi thấy kết quả học tập của họ giảm sút; hướng dẫn và giúp đỡ sinh viên giải quyết những khó khăn vướng mắc trong học tập; hướng dẫn cho sinh viên về cách học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ. Như vậy, cố vấn học tập là người có nhiều thời gian tiếp xúc với sinh viên, họ là ngừi định hướng, tư vấn cách học để sinh viên có phương pháp học tập tốt nhất. Đối với trường Đại học Tiền Giang thì hoạt động của cố vấn học tập còn mờ nhạt, chưa phát huy hết vai trò đối với việc tự học của sinh viên. Vì vậy để hoạt động tự học của sinh viên đại học Tiền Giang đạt kết quả tốt cố vấn học tập cần phát huy tích cực vai trò của mình, thực hiện tốt nhiệm vụ cố vấn học tập được phân công, bên cạnh đó nhà trường cũng có chiến lược, giải pháp phát huy tối đa vai trò của cố vấn học tập.

2.2.5 Vai trò của các tổ chức đoàn thể đối với hoạt động tự học

Các tổ chức đoàn thể như: Đoàn thanh niên, Hội sinh viên…cũng đóng một vai trò quan trọng đến quá trình tự học của sinh viên. Sinh viên đại học là người năng động, sáng tạo, tự giác, đặc biệt đào tạo theo hệ thống tín chỉ đòi hỏi sinh viên càng phải có kỷ năng, phương pháp học tập thích hợp để đạt hiệu quả. Các tổ chức đoàn thể là nơi rèn luyện cho sinh viên những kỷ năng cần thiết trong cuộc sống và nó sẽ hữu ích cho việc học của sinh viên. Thông qua những phong trào của Đoàn, Hội sẽ hình thành cho sinh viên bản lĩnh tự tin, năng động, nhanh nhẹn, tiếp cận nhiều nguồn thông tin, biết xử lý những tình huống trong thực tế. Khi sinh viên có được những kỷ năng này thì các em sẽ chủ động và tích cực học tập, mạnh dạn phát biểu trên lớp; có khả năng thuyết trình tốt; có khả năng làm việc nhóm tốt; biết xử lý thông tin để phục vụ cho việc học của mình. Đoàn, Hội cũng nên tổ chức nhiều buổi tập huấn kỷ năng nhưng chú trọng kỷ năng thực hành nhiều hơn học lý thuyết, tổ chức cho sinh viên nhiều buổi vui chơi, cọ sát thực tế thực hành những kỷ năng đã học trên lý thuyết; tổ chức những buổi tọa đàm, hội thảo xung quanh vấn đề tự học của sinh viên để giúp họ thấy được vai trò của việc tự học từ đó họ sẽ có ý thức tự giác tích cực và chủ động học tập.

III. Kết luận

Hoạt động tự học của sinh viên đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học đại học nói chung và đặc biệt cần thiết trong phương thức đào tạo theo tín chỉ. Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động tự học cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của các yếu tố nói trên. Hoạt động tự học không thể đạt hiệu quả nếu như chỉ có sự nổ lực một phía từ giảng viên, giảng viên cho dù có cố gắng đổi mới phương pháp, hình thức và có kế hoạch hoàn hảo đến đâu nhưng sinh viên không có ý thức tự học, thái độ và tinh thần học tập không tốt thì việc học sẽ không đạt hiệu quả. Giảng viên đổi mới phương pháp; sinh viên tự giác học tập; cố vấn học tập phát huy tốt vai trò của mình là người đồng hành cùng sinh viên kịp thời tư vấn, định hướng cho sinh viên; các tổ chức Đoàn, Hội là nơi rèn luyện tốt kỷ năng cần thiết cho sinh viên; cùng với cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc học; cơ chế quản lý được đảm bảo tốt. Tất cả những yếu tố trên nếu kết hợp một cách chặt chẽ và triển khai đồng bộ thì việc tự học của sinh viên ở trường đại học Tiền Giang sẽ đạt hiệu quả cao.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.GS. TSKH. Bernd Meier (2002), Các phương pháp dạy học hiện đại bậc cao đẳng và đại học (Dự án đào tạo giáo viên).

2 . Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

4. Phạm Gia Đức – Phạm Đức Quang (2007), Giáo trình dạy học sinh trung học cơ sở tự lực tiếp cận kiến thức toán học. Nxb Đại học sư phạm,Hà Nội.

5. PGS.TS Đặng Xuân Hải (2013), Kỹ thuật dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ,Nxb Bách Khoa, Hà nội.

6. GS. TS. Trần Bá Hoành (2003), Lý luận cơ bản về dạy và học tích cực, (Dự án đào tạo GV THCS) Hà Nội.

7. Nguyễn Hữu Hợp (2004), Giáo trình đạo đức và phương pháp dạy đạo đức ở tiểu học, Nxb đại học sư phạm.

8. Nguyễn Đức Lân (dịch và chú giải) (1998), Chu Hy tứ thư tập chú, Nxb Văn hoá – Thông tin,  Hà Nội.

9. Hồ Chí Minh toàn tập (2000), Tập 3,4,5,8,9,10,11,12, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

10. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Giáo dục, Nxb Lao động.

11. Trương Văn Tài (chủ biên) ( 2012), Bàn về giáo dục – Nxb Văn hóa thông tin

12. GS. TS. Vũ Văn Tảo (2003), Dạy cách học, (Dự án đào tạo GV THCS) Hà Nội.

13. Bảng điểm quá trình các lớp 1410001208; 1410001214; 1410001216; 1410001220. Học phần những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác – Lênin, lưu tại Khoa Lý luận chính trị.

 

TRAO ĐỔI MỘT SỐ KINH NGHIỆM

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN

Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC TIỀN GIANG  

TRONG GIẢNG DẠY HỌC PHẦN  TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

ThS Nguyễn Thị Thúy Hằng

(Khoa Lý luận chính trị)   

 

1. Đặt vấn đề

Tự học, tự nghiên cứu là khâu then chốt, có tầm quan trọng đặc biệt trong đào tạo theo tín chỉ. Theo hình thức tín chỉ thì sinh viên là trung tâm, ngoài kiến thức giảng viên truyền đạt trên lớp thì sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu thêm tài liệu. Việc tự học của sinh viên giữ vai trò rất quan trọng, nó là nhân tố trực tiếp nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học. Bên cạnh đó tự học còn góp phần nâng cao hoạt động trí tuệ của sinh viên trong việc tiếp thu và hiểu tri thức mới, rèn luyện cho sinh viên có cách độc lập suy nghĩ, độc lập giải quyết các vấn đề khó khăn trong quá trình học, giúp sinh viên tự tin hơn trong việc lựa chọn cuộc sống của mình, và thúc đẩy sinh viên lòng ham học, ham hiểu biết, vươn tới đỉnh cao của khoa học, sống có hoài bão, có ước mơ.

Từ thực tiến giảng dạy học phần tư tưởng Hồ Chí Minh theo học chế tín chỉ cho sinh viên các khóa 12, 13 ở Trường Đại học Tiền Giang, tác giả trao đổi một số  kinh nghiệm về đổi mới phương pháp đánh giá kết quả tự nghiên cứu của sinh viên đối với học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh

2. Thực trạng tự học của sinh viên đối với học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh

Theo quy chế đào tạo học tín chỉ, để tiếp thu một tiết học trên lớp sinh viên phải dành 2 giờ tự nghiên cứu ở nhà. Theo quy định của bộ môn quá trình tự học chiếm 10% điểm số của môn học. Với học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh có 2 tín chỉ thì sinh viên có 60 giờ tự nghiên cứu ở nhà. Như vậy, một học kỳ 15 tuần thì mỗi tuần sinh viên dành 4 giờ tự nghiên cứu ở nhà cho học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tự học có vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập ở bậc đại học của mỗi sinh viên. Vậy sinh viên đã có khả năng tự học chưa? Có ở mức độ nào? Để trả lời được các câu hỏi này tôi đã thực đánh giá quá trình tự học sinh viên tôi như sau:

Từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 5 tôi yêu cầu tất cả sinh viên mang theo vở tự học, tự nghiên cứu để kiểm tra. Tôi chỉ đóng dấu vào vở để ghi nhận kết quả đã làm của từng sinh viên không cho điểm chính thức. Việc làm này nhằm tuyên dương, động viên những sinh viên tích cực đồng thời nhắc nhở và cảnh báo đối với những sinh viên chưa tích cực.

Từ tuần thứ 7 đến tuần thứ 8 tôi đồng loạt thu vở tự nghiên cứu của sinh viên để chấm điểm. Tuần 10 tại buổi tổng kết môn học tôi sẽ trả vở tự nghiên cứu, kết quả tự nghiên cứu giúp sinh viên có thêm hiểu biết sâu hơn và có khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Điểm số được tôi  ghi nhận vào danh sách ghi điểm quá trình của sinh viên

Cuối học kỳ, sau khi đã tổng hợp các điểm ra kết quả điểm quá trình, tôi sẽ thông báo trước lớp.

Nhìn chung, đa số sinh viên có làm bài, tuy nhiên, cũng còn một số không nhỏ  sinh viên chưa có ý thức hoàn thành tốt tự học, tự nghiên cứu, đa số làm để đối phó, bên cạnh đó có khoảng 1/3 không làm hoặc chỉ làm vài dòng.

Dưới đây là kết quả của việc đánh giá tự nghiên cứu Học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh của một số lớp cho thấy:

TT

Lớp

Sĩ số

SV không tham gia tự nghiên cứu

Điểm tự nghiên cứu dưới 5 điểm

Điểm tự nghiên cứu từ 5-7 điểm

Điểm tự nghiên cứu từ trên 7điểm

1

1210321206

68

15

25

20

8

2

1210321214

 69

14

17

 10

9

3

1210321215

58

10

8

 22

18

4

1210321225

71

20

15

30

6

5

 1210321226

70

18

17

25

10

6

1210321228

76

12

10

38

16

 

Song song cách đánh giá trên, tôi đã làm một cuộc khảo sát về phương pháp học của sinh viên khóa 12 tại Trường Đại học Tiền Giang bao gồm những câu hỏi, trong đó chủ yếu là câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn. Nội dung các câu hỏi tập trung vào một số tiêu chí cơ bản: Hiểu biết của sinh viên về tự học, và tự học về học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh, kĩ năng tự học và những biểu hiện tâm lý khi học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua khảo sát và kết quả việc đánh giá tự học của sinh viên tôi thấy là sinh viên Trường Đại học Tiền Giang cũng có ý thức trong tự học nhưng chưa cao, trả lời câu hỏi vì sao tính tự học sinh viên chưa cao thì đa số cho do các nguyên nhân sau đây:

 - Tính thụ động của sinh viên, lười đọc sách, ôn bài ở nhà, chỉ đợi đến giờ lên lớp là vào học, không đầu tư kiến thức chuyên môn mặc dù đã có trang bị giáo trình, bài giảng sẵn có trong tay.

- Chỉ học những gì giáo viên nêu ở lớp.

- Chưa nắm được phương pháp tự học và cách học ở bậc đại học, nhất là bước chuẩn bị nội dung ở nhà cho lần lên lớp kế tiếp.

- Một trở ngại lớn nữa là vấn đề mưu sinh, sinh viên gặp phải điều kiện kinh tế khó khăn, phải đi làm thêm, đôi khi không dự lớp và không có thời gian tự học, vì thế chất lượng học tập kém

- Việc học nhóm gặp nhiều khó khăn do thời khóa biểu khác nhau.

- Không có phòng cho sinh viên tự học đặc biệt là học nhóm.

- Làm việc nhóm: đôi khi còn đùn đẩy cho nhau, chưa phát huy hết tính tự giác trong học tập.

Qua kết quả quá trình tự học và khảo sát cũng như để khắc phục những nguyên nhân làm cho quá trình tự học của sinh viên chưa cao. Tôi thấy cần phải đổi mới phương pháp dạy và phương pháp đánh giá quá trình tự học của sinh viên nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo và chất lượng học tập của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang trong thời gian tới.

3. Một số kinh nghiệm trong đánh giá tự học, tự nghiên cứu của sinh viên trong giảng dạy học phần Tư tưởng Hồ chí Minh

 Từ thực trạng trên của khóa 12  sang khóa 13 đã chú ý đổi mới phương pháp dạy, cách đánh giá quá trình tự học và nghiên cứu của sinh viên. Theo tôi, để quá trình tự nghiên cứu, tự học đạt kết quả tốt, buổi học đầu tiên giáo viên cung cấp cho sinh viên các vấn đề cần tự học và tự nghiên cứu. Ngoài ra, trong quá trình dạy giáo viên cũng sẽ tiếp tục đặt ra những vấn đề để sinh viên cần tự nghiên cứu. Để kiểm tra quá trình tôi tiếp tục yêu cầu mỗi sinh viên ngoài vở học trên lớp phải có thêm một vở tự nghiên cứu, nhưng ở khóa 13 tôi không kiểm tra theo đợt mà kiểm tra lần lượt các tuần để giải quyết các vấn đề có liên quan đến môn học. Hàng tuần thông qua các tiết giảng tôi sẽ làm rõ những vấn đề mà sinh viên đã tự nghiên cứu ở nhà, giải đáp các thắc mắc của sinh viên và  nhắc nhở, cảnh báo đối với những sinh viên chưa có ý thức tự giác trong học tập.

Do vậy, ngay từ buổi học đầu tiên, tôi đã dành thời gian để cung cấp đầy đủ thông tin về học phần, đề cương chi tiết học phần, tài liệu, phương pháp dạy và phương pháp học, phương pháp tìm tài liệu, phương pháp tự nghiên cứu, yêu cầu trong kiểm tra đánh giá quá trình, cung cấp cho sinh viên địa chỉ email và điện thoại của giảng viên để sinh viên có thể trao đổi khi cần thiết, chia nhóm… Tuy những việc trên mất nhiều thời gian, nhưng sẽ rất cần thiết và sinh viên có điều kiện thiết kế cho mình một thời gian biểu thích hợp để học mà không ảnh hưởng đến học phần khác. Để đánh giá kết quả học tập môn học, tôi đánh giá toàn diện, bao gồm: điểm thi kết thúc môn (chiếm 60%) và điểm quá trình (40%). Trong đó điểm quá trình là sự tổng hợp của các thành phần gồm điểm tự nghiên cứu (chiếm 10%); điểm thảo luận và thuyết trình nhóm (15%), điểm kiểm tra giữa kỳ (10%), điểm chuyên cần (5%); ngoài ra nếu sinh viên tích cực trong học tập trên lớp (thường xuyên phát biểu, tranh luận hoặc phản biện) thì tôi sẽ có điểm thưởng thỏa đáng và công khai trước lớp.

Để kiểm tra đánh giá được chất lượng tự học và tự nghiên cứu của sinh viên tôi đã chú ý đổi mới cả phương pháp cung cấp lượng kiến thức cho sinh viên và cách kiểm tra đánh giá.

Trước hết là cách cung cấp lượng kiến thức cho sinh viên, học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh với khối lượng kiến thức nhiều, thời gian lại bị rút ngắn từ ba đơn vị học trình còn hai tín chỉ, nhưng nội dung kiến thức không có gì thay đổi nên nội dung nào nên giảng sâu cho sinh viên theo phương pháp thuyết trình, nêu vấn, còn lại các nội dung khác để sinh viên thảo luận theo nhóm.

Do điều kiện và tính chất đặc thù của môn học nên trong quá trình giảng dạy tôi chỉ trình bày các vấn đề cơ bản sau:

Ở chương mở đầu: Đối tượng, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh. Tôi chú ý đi sâu phân tích cho  cho sinh thấy được Tư tưởng Hồ Chí Minh đã soi đường cho Đảng và nhân dân Việt Nam chẳng những trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn trên con đường xây dựng đất nước, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, mỗi sinh viên phải nghiêm túc học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao tư duy lý luận, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao đạo đức cách mạng để góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

    Chương 1: Cơ sở, quá trình hình thành và phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh. Tôi chú ý phân tích cho sinh viên thấy được chính sức mạnh truyền thống yêu nước và  tư tưởng văn hóa của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại đã thúc đẩy Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác Lênin và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn và sáng tạo.

     Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc. Phân tích cho sinh viên thấy được đây là vấn đề quan trọng nhất, trọng tâm nhất trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, Người đã có những cống hiến quan trọng vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin, về khả năng tự giải phóng của cách mạng ở các nước thuộc địa và đã được chứng minh trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới trong gần một thế kỷ qua là hoàn toàn đúng đắn.

      Ở các chương, Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về Đảng, về khối đoàn kết dân tộc, quốc tế, về Nhà nước tôi chỉ giới thiệu những nôi dung cốt lỗi còn lại tôi đưa ra các bài tập và câu hỏi cho sinh viên tự nghiên cứu thảo luận. Ví dụ, ở chương Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tôi yêu cầu sinh viên đọc giáo trình và thuyết trình chủ đề “Quan điểm Hồ Chí Minh về nội dung xây dựng chủ nghĩa hội nước ta trong thời kỳ quá độ” và hướng dẫn sinh viên tìm đọc bài “Bài phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy Ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc” và trả lời câu hỏi “Hồ Chí minh nói bài này từ tháng 1/ 1946. Đến nay chúng ta đã thực hiện xong 4 mục tiêu đó chưa?”

     Ở chương, Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, đạo đức và xây dựng con người mới. Tôi dành thời gian phải phân tích, lý giải cho sinh viên thấy được đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng. Có đạo đức cách mạng khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại cũng không lùi bước, chán nản, khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ tinh thần khiêm tốn, không công thần kiêu ngạo. Đồng thời phải phân tích cho sinh viên thấy mối quan hệ mật thiết giữa đức và tài. Còn các vấn đề khác tôi tập trung cho thảo luận.

Trong kiểm tra quá trình tự học của sinh viên có hai cách:

Một là, tôi cho sinh viên trực tiếp tìm hiểu các bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh theo gợi ý của một hệ thống các câu hỏi, bài tập cho trước. Ví du: ở chương 1: Khái niệm, nguồn gốc quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Tôi hướng dẫn sinh viên tìm đọc tác phẩm: “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin”. “Đạo đức cách mạng”. Ở chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc”,  thì tôi hướng dẫn sinh viên tìm đọc tác phẩm: “Báo cáo về Bắc Kỳ và Nam Kỳ”, “Tuyên ngôn độc lập” của Bác Hồ…. Bằng biện pháp này học viên tự tìm đến và độc lập cảm nhận được các luận điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà không thông qua sự áp đặt nhận thức trong bài giảng của giáo viên cũng như trong giáo trình. Đây là một biện pháp khá hiệu quả trong việc phát huy tính tích cực tìm tòi, tự nghiên cứu của sinh viên.

Dựa theo sự hướng dẫn của tôi sinh viên về nhà tự tìm và đọc các tác phẩm đó. Đầu mỗi buổi học trên lớp dành một khoảng thời gian để sinh viên trình bày kết quả tự học ở nhà. Tùy theo khung thời gian và trình độ mỗi lớp mà tôi kiểm tra kết quả tự học của sinh viên qua các dạng bài tập sau: Bài tập siêu tốc. Ví dụ, ở chương  2: với tác phẩm“Tuyên ngôn độc lập” năm 1945 của Bác Hồ. Tôi nêu câu hỏi “Bác Hồ nói đến lẽ phải không ai có thể chối cải được đó là gì ?” Trong vòng 30 giây cá nhân được hỏi phải trả lời ngắn gọn bài tập được chỉ định. Bài tập tình huống: Trả lời tình huống hoặc câu hỏi suy luận. Ví dụ ở chương 1 thì bài tập tình huống cho sinh viên đọc tác phẩm “Đạo đức cách mạng” là “Bạn hãy nhận dạng và phân tích ba loại kẻ thù nói trên (trong tác phẩm) hiện nay ở nước ta”. Bài tập liên hệ thực tế: sinh viên phải thường xuyên liên hệ những lý luận mà mình nắm bắt được qua nghiên cứu và học tập trên lớp với thực tiễn của bản thân, thực tiễn của đất nước và thế giới.Ví dụ ở chương Nhà nước của dân do dân vì dân tôi hướng dẫn sinh viên đọc bài, Bác Hồ  “Trả lời một nhà báo nước ngoài” ngày 16/7/1946 và trả lời câu hỏi “ Bạn hãy so sánh chính sách mà Bác đã nêu ra trong bài trả lời đó với chính sách hiện nay đối với thành phần kinh tế tư bản tư nhân và thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bạn có nhận định gì? Với nội dung này sinh viên sẽ trình bày ý kiến riêng của mình về một vấn đề mở, trong 1 - 2 phút; Bài tập đối kháng, ví dụ ở chương Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa đạo đức và xây dựng con người mới. Tôi hướng dẫn sinh viên đọc tác phẩm: CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH. Tôi cho nội dung như sau: “Nhiều người cho rằng tư tưởng Hồ chí Minh về chữ Liêm và các biện pháp thực hiên chữ Liêm trong toàn xã hội là rất đúng, rất hay, nhưng ngày nay là điều ảo tưởng vì số kẻ bất lương đang tăng lên trong khi người Liêm ngày càng hiếm.

 Nhưng không ít người cho rằng chính vì xu hướng bất Liêm đang tăng lên mà tư tưởng Hồ chí Minh về chữ Liêm và các biện pháp thực hiên chữ Liêm lại càng có ý nghĩa cấp thiết, càng phải nêu cao hơn bao giờ hết.

Bạn hãy đứng về một phía để tranh luận”.  

Bài tập tiếp sức đồng đội: loại bài tập này tôi giao cho lớp trưởng một lớp điều hành, các sinh viên khác làm phản biện. Khi sinh viên thứ nhất trả lời xong (tôi chưa đánh giá) thì phải “chuyển” micrô cho sinh viên thứ hai cùng lớp (để trả lời tiếp hoặc bổ sung, hoặc phát hiện chỗ sai, chỗ thiếu…) đến khi tôi thấy lượng vừa đủ sẽ quyết định khi nào ngừng dây chuyền trả lời này, để đưa ra nhận xét và kết luận cho cả lớp. 

 Thứ hai, trong tổ chức thực hiện giờ thảo luận có 2 bước

 Bước 1:  tôi phân nhóm và giao nhiệm vụ cho từng nhóm.

Mỗi chủ đề có thể được thảo luận trong một tiết học. Trong mỗi câu hỏi có thể chứa nhiều nội dung, trên cơ sở nội dung câu hỏi tôi phân chia thành các nhóm khác nhau. Việc phân chia nhóm chủ yếu theo chỗ ngồi của sinh viên, quy mô nhóm phụ thuộc nội dung câu hỏi chứa ít hay nhiều vấn đề cần làm rõ, làm sao cho mỗi thành viên trong nhóm thảo luận đều được phân công và có trách nhiệm ở trong nhóm. Ví dụ: Để thảo luận nội dung: Những tiền đề tư tưởng – lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh; Các thời kỳ hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, tôi chia lớp thành 2 nhóm với 2 nội dung cụ thể: 

  Nhóm 1: Trình bày những tiền đề tư tưởng – lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh?

 Nhóm 2: Trình bày các thời kỳ hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh?

 Mỗi nhóm sẽ có 3 đến 5 phút chuẩn bị nội dung trình bày.

 Bước 2, tiến trình thực hiện:

Một là, báo cáo nội dung vấn đề thảo luận: Tôi yêu cầu sinh viên trong nhóm trình bày những yêu cầu của nội dung câu hỏi. Các thành viên trong nhóm bổ sung để hoàn chỉnh nội dung trả lời.

 Hai là, thảo luận sau khi nhóm báo cáo đã trình bày hoàn chỉnh nội dung, nhóm nghe báo cáo sẽ chuẩn bị các câu hỏi để chất vấn, yêu cầu làm rõ một số vấn đề trong nội dung báo cáo hoặc đưa ra tình huống giả định,…cho nhóm báo cáo, nhóm báo cáo có trách nhiệm trả lời các vấn đề trong nội dung bài học. Đây là một hoạt động rất sôi nổi, tạo nên không khí thoải mái trong lớp học cũng như tính cạnh tranh trong học tập, tạo ra một động lực lớn trong quá trình tiếp nhận tri thức. Ví dụ, khi thảo luận nôi dung: Trình bày những tiền đề tư tưởng – lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh? khi đề cập đến vấn đề  "Cơ sở đóng vai trò quyết định đến quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh", sinh viên thường có hai quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, chính nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh với khả năng tư duy và trí tuệ cùng với phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn đã giúp Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm ra lý luận cách mạng cho các thuộc địa trong thời đại mới, trên cơ sở đó Người đã xây dựng một hệ thống quan điểm lý luận toàn diện, sâu sắc và sáng tạo về con đường cách mạng Việt Nam. Người đã kiên trì chân lý vượt qua những khó khăn thử thách và định ra các quyết sách đúng đắn, sáng tạo để đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.

Quan điểm thứ hai cho rằng, những tiền đề về tư tưởng lý luận (cơ sở khách quan) là yếu tố mang tính quyết định đến quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác - Lênin chính là yếu tố quyết định đến quá trình hành thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh.

 Trong quá trình các nhóm thảo luận tôi cũng đưa ra những câu hỏi để hướng sinh viên vào những vấn đề trọng tâm của bài học, hoặc đưa sinh viên vào các tình huống có vấn đề để giải quyết, làm sao để sinh viên phát huy tính mạnh dạn, sự đối thoại và trao đổi với nhau, khuyến khích sinh viên tìm kiếm, nắm bắt tri thức một cách chủ động, sáng tạo.

Ba là, tổng kết, nhận xét đánh và cho điểm các nhóm.

 + Tôi hệ thống kiến thức lại cho sinh viên cả ý kiến tranh luận và ý kiến phát biểu của sinh viên. Trên cơ sở ví dụ trên, tôi khẳng định tính đúng đắn của quan điểm cho rằng "Chủ nghĩa Mác-Lênin chính là cơ sở quyết định đến quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh". Chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, Người đã tiếp thu lý luận của Mác - Lênin theo phương pháp mácxít, nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất. Người vận dụng lập trường, quan điểm, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam…

  + Nhận xét kết quả báo cáo, các câu trả lời của các sinh viên về các tình huống của các nhóm.

 + Đánh giá và cho điểm hoạt động của sinh viên trong giờ thảo luận làm cơ sở để cộng vào điểm thường xuyên 2

Trong cho điểm thảo luận tôi thường cho điểm chung các thành viên trong nhóm tự phân chia tùy theo mức độ đóng góp của cá nhân sinh viên trong quá trình thảo luận mà nhóm trưởng chia điểm một cách công khai và công bằng. Ví dụ nhóm có 7 sinh viên nếu quá trình làm việc hiệu quả thì là 60 điểm nếu kém là 50 điểm.

Dưới đây là kết quả của việc đánh giá tự nghiên cứu Học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh của một số lớp khóa 13

TT

Lớp

Sĩ số

SV không tham gia tự nghiên cứu

Điểm tự nghiên cứu dưới 5

Điểm tự nghiên cứu từ 5-7

Điểm tự nghiên cứu từ trên 7

1

1210321208

60

0

17

30

13

2

1210321209

75

0

15

 40

20

3

1210321212

79

0

8

45

26

4

1210321222

66

0

10

40

16

5

 1210321223

65

0

8

45

12

6

1210321233

61

0

9

36

16

 

Như vậy, với đổi mới phương pháp đánh giá quá trình tự học thì kết quả điểm tự học của sinh viên khóa 13 có nâng lên và bước đầu cũng tạo sự hứng thú cho sinh viên trong nghiên cứu và tìm hiểu môn học này.

4. Trong quá trình thực hiện tôi thấy có một số vấn đề cần lưu ý:

Khó khăn lớn nhất khi đánh giá sự tự học của sinh viên đối với học phần tư tưởng Hồ Chí Minh là lớp học quá đông theo tôi 1 lớp khoảng từ 45 đến 50 sinh viên sẽ tốt hơn là một lớp 60 – 90 sinh viên hiện nay.

Bàn ghế quá nặng nên khi thảo luận nhóm khó di chuyển và mất thời gian nên cả sinh viên và giáo viên ngại thay đổi trong một buổi học.

Tuy vây, để nâng cao được chất lượng đào tạo và tạo cho sinh viên  tự học tốt hơn trong quá trình thực hiện tôi thấy cần lưu ý một số vấn đề sau:

 *Đối giảng viên 

- Phải có sự chuẩn bị bài giảng thật tốt và đầy đủ, nhất là khâu thiết kế bài giảng sao cho thật sinh động, khơi dậy sự ham hiểu biết, tìm tòi sáng tạo trong sinh viên. Trong quá trình giảng dạy, phải tích cực huy động kiến thức sinh viên đã có để sinh viên tiếp thu cái mới; Giảng viên có thể khai thác và sử dụng sơ đồ, bản đồ, biểu, bảng trong bài giảng; điều này sẽ giúp sinh viên dễ hiểu, dễ nhớ và buộc sinh viên phải diễn đạt lại bằng ngôn ngữ của mình nhờ vậy khả năng tư duy logic và diễn đạt được nâng cao.

  -  Hướng dẫn sinh viên biết cách tự hoàn thiện kiến thức bài học sau khi lên lớp: Đây là công việc then chốt nhất của tự học, tự nghiên cứu; công việc này có thể là sinh viên đọc giáo trình, tự nghiên cứu tài liệu, làm bài tập cũng có thể là thảo luận nhóm, hoặc viết báo cáo khoa học. Tuy nhiên, công việc này sinh viên không thể tự làm được mà phải có sự hướng dẫn của giảng viên.

  -  Hướng dẫn sinh viên biết cách tìm kiếm tài liệu, chia xẻ thông tin và làm việc nhóm. Trước sự phát triển của khoa học công nghệ, mỗi thành tựu trong nghiên cứu đều là trí tuệ tập thể, vì vậy trong quá trình giảng dạy, giảng viên phải biết cách hướng dẫn sinh viên tìm kiếm, chia xẻ thông tin và phải biết làm việc nhóm...

 Hướng dẫn học tập không chỉ bằng lời nói của giảng viên trên lớp, mà bằng văn bản đối với từng bài, từng tuần cần thiết kế hệ thống câu hỏi hoặc chỉ dẫn giúp sinh viên tự tìm hiểu bài trước khi dự học ở lớp. Có thể cuối bài trước chuyển cho sinh viên câu hỏi hướng dẫn tự học cho bài sau. Nhưng tốt nhất là chuyển cho lớp toàn bộ hệ thống hướng dẫn học học phần ngay từ buổi lên lớp đầu tiên, để sinh viên sẽ hoàn toàn chủ động trong việc bố trí thời gian tự học trên nội dung yêu cầu của giảng viên.

        *  Đối với sinh viên

- Cần nâng cao tính tự học, hiểu rõ môi trường học tập ở bậc đại học khác xa với môi trường học tập ở bậc phổ thông trung học. Rèn luyện phương pháp tự học trở thành một mục tiêu học tập của minh.

- Về khối lượng kiến thức học tập ở bậc đại học nhiều hơn so với ở bậc học phổ thông. Chính vì thế sinh viên không tập luyện tính tự học thì không thể giải quyết một khối lượng lớn trong  một học kỳ

- Về chất lượng kiến thức: ở bậc đại học không chỉ học sự kiện hay học hiện tượng, không chỉ học biết, học hiểu và vận dụng mà còn học phân tích, học tổng hợp, học đánh giá, học tư duy, và nhất là học phương pháp học tập để học biết được nhiều và có năng lực tự học suốt đời.

- Sinh viên cần nắm vững kiến thức của hệ thống phương pháp học tập tích cực: Trong quá trình học tập, việc xác định mục đích, xây dựng động cơ, lựa chọn phương pháp, hình thức tự học hợp lý là cần thiết.

5. Kết luận

Trong đào tạo theo tín chỉ, đổi mới phương pháp dạy học và cách đánh giá kết quả tự học của sinh viên là một yêu cầu có tính nguyên tắc. Do đó theo tôi trong giảng dạy giáo viên đóng vị trí vai trò cực kỳ quan trọng, giáo viên không chỉ là người tổ chức dẫn dắt để sinh viên khám phá bản chất vấn đề, mà còn phải làm sao cho sinh viên ghi nhớ những tri thức cơ bản của môn học đó là những tư tưởng chủ đạo, những luận điểm, những nguyên lý chủ yếu mang tính cách mạng và  khoa học chứ không phải những chi tiết nhỏ vặt.

Trên đây là một số kinh nghiệm về đổi mới phương pháp dạy và đánh giá quá trình tự học của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng tự học các học phần Lý luận chính trị nói chung và học phần tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng, xin trao đổi với các đồng nghiệp. Tôi rất mong nhận được sự trao đổi từ đồng nghiệp các kinh nghiệm quý báu để tôi có thể dạy tốt hơn học phần  tư tưởng Hồ Chí Minh.

 

Tài liệu tham khảo

1. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh – Bộ Giáo dục và đào tạo.

2.Ts.Gvc Tô Thị Hiền Vinh. Một số kinh nghiêm giảng dạy theo hoc chế tín chỉ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh.

3. Nguyễn Tiến Thành Trưởng phòng Đào tạo Trường đại học Bạc Liêu. Một số thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ.

4. Rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ. Bài đã đăng trên “Tạp chí Giáo dục” (Tạp chí lý luận – khoa học * Bộ GD&ĐT). Số đặc biệt 3/2012. TS. Hoàng Thảo Nguyên - ThS. Nguyễn Thị Phương Thanh

 

KINH NGHIỆM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU HỌC PHẦN

NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN

Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC TIỀN GIANG

 

ThS Nguyễn Trung Hiếu

(Khoa Lý luận chính trị)

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Một trong những định hướng chính trong đổi mới phương pháp dạy học ở bậc đại học là phải tạo điều kiện, môi trường để sinh viên chủ động thực hiện kế hoạch học tập của mình trên cơ sở tích cực, chủ động, tự lực phát huy năng lực tiếp thu kiến thức, rèn luyện kỹ năng dưới sự hỗ trợ của giảng viên và viên chức các bộ phận có liên quan đến quá trình đào tạo. Riêng đối với giảng viên phải kết hợp sử dụng nhiều phương pháp, phương thiện kỹ thuật và công nghệ dạy học để phát huy cao nhất năng lực nhận thức và tính tích cực, chủ động, sáng tạo của tất cả sinh viên trong lớp học nói chung và từng sinh viên nói riêng

Trong giới hạn bài tham luận này, chúng tôi trình bày một số nhận thức về sự liên hệ giữa phương thức đào tạo theo tín chỉ với yêu cầu tự học, tự nghiên cứu; và chia sẻ một vài kinh nghiệm trong việc hình thành năng lực tự học, tự nghiên cứu học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, cùng những kết quả ban đầu đạt được trong quá trình từng bước đổi mới phương pháp thời gian qua.

2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1. Tự học, tự nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác –Lênin theo học chế tín chỉ và yêu cầu đổi mới cách dạy, cách học

Nghiên cứu lý luận về phương pháp dạy – học ở bậc đại học từ trước đến nay, chúng ta thấy rằng hoạt động tự học luôn có một vị trí vô cùng quan trọng và có ý nghĩa rất to lớn trong việc tiếp thu và chiếm lĩnh tri thức đối với sinh viên. Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc tự học càng được khẳng định và phát huy trong điều kiện hiện nay – khi chúng ta đang từng bước chuyển mình từ phương thức đào tạo theo niên chế sang phương thức đào tạo theo tín chỉ. Là một học phần bắt buộc ở bậc cao đẳng, đại học, việc nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác –Lênin cũng tuân theo nguyên tắc ấy.

2.1.1. Tự học - một khâu bắt buộc, có ý nghĩa quan trọng trong phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị

Theo nhận thức của chúng tôi thì hoạt động tự học được xem là một khâu bắt buộc, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ. Trong phương thức đào tạo mới này, hình thức tổ chức dạy – học được thiết kế gồm ba khâu có mối quan hệ hữu cơ, đó là: lên lớp – thực hành (thảo luận) – tự học. Và khâu tự học ở đây cũng được xem là một trong những yếu tố để đánh giá kết quả học tập của sinh viên đối với từng môn học. Trong khi đó, đối với phương thức đào tạo theo niên chế thì tự học chỉ là hoạt động mang tính chất tự nguyện, khuyến khích.

Tự học, tự nghiên cứu trước Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin bao gồm giáo trình chính thống của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cũng như các nguồn tư liệu khác có liên quan sẽ giúp cho sinh viên có được một tâm thế hào hứng và một tư thế chủ động, sẵn sàng tiếp thu tri thức mới, mạnh dạn tư duy để tìm giải pháp trước những tình huống khoa học và thực tiễn được đặt ra trong quá trình học tập.

Hoạt động tự học, tự nghiên cứu của sinh viên có thể được thực hiện một cách tương đối độc lập theo quỹ thời gian và kế hoạch tự học của cá nhân, cũng có thể được tiến hành theo từng nhóm. Tuy nhiên, từ thực tế cho thấy hiệu quả của hoạt động tự học, tự nghiên cứu sẽ cao hơn khi sinh viên biết kết hợp nhuần nhuyễn cả hai hình thức nói trên, bởi lẽ sự kết hợp đó vừa giúp sinh viên hình thành và phát huy kỹ năng làm việc tập thể, vừa không làm mất năng lực tư duy độc lập của mỗi sinh viên trong quá trình học tập của họ.

2.1.2. Tự học theo một kế hoạch do sinh viên xây dựng thông qua sự tư vấn của cố vấn học tập và giảng viên bộ môn

Trong phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, về nguyên tắc, kế hoạch học tập cụ thể do chính bản thân sinh viên chọn lựa và quyết định. Đây là một trong những đặc điểm căn bản khác với phương thức đào tạo theo niên chế. Điều này có nghĩa là, sinh viên có nhiệm vụ và có quyền được chọn môn học, thời gian học và tiến trình học nhanh hay chậm cho phù hợp với năng lực cũng như các điều kiện cụ thể của cá nhân. Với ý nghĩa đó, sinh viên cần thiết và bắt buộc phải chủ động và tích cực trong việc lập kế hoạch học tập sao cho thật khoa học, phải tự xác định thời gian, phương tiện và biện pháp để thực hiện các mục tiêu đề ra trong kế hoạch học tập đó. Để có thể thực hiện được những điều nói trên, chính bản thân sinh viên phải có ý thức tốt và trách nhiệm cao trong việc xây dựng kế hoạch tự học, tự nghiên cứu nhằm mang lại hiệu quả tối ưu.

Để xây dựng được kế hoạch học tập cho mình, sinh viên cần phải nắm chắc khung chương trình đào tạo của chuyên ngành mà mình đang theo học. Khung chương trình này đã được Nhà trường quy định rất rõ ràng và chi tiết. Thông qua sự hướng dẫn tận tình của cố vấn học tập, mỗi sinh viên tự xây dựng cho mình một kế hoạch học tập tương đối độc lập bằng cách tự giác đăng ký số lượng và tên học phần vào đầu mỗi học kỳ sao cho phù hợp nhất.

Trong phạm vi của học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, kế hoạch học tập của sinh viên thông thường được hình thành theo trình tự các bước sau: sinh viên được giới thiệu Đề cương chi tiết học phần – Sinh viên nghiên cứu các yêu cầu cụ thể trong Đề cương – Sinh viên đọc Giáo trình, tìm tài liệu phục vụ cho các câu hỏi trọng tâm được nêu ở cuối mỗi chương – Liên hệ giảng viên nhờ tư vấn chuyên môn khi cần thiết. Với quy trình như vậy, bản thân mỗi sinh viên sẽ cảm thấy vững tin khi tiếp cận với môn học, có khả năng hình dung trước và dễ dàng theo dõi tốt diễn biến của từng buổi học, từng nội dung mà thầy cô giảng trên lớp.

 2.1.3. Phương pháp giảng dạy lý luận chính trị kích thích hoạt động tự học, tự nghiên cứu

Nội dung kiến thức của một bài giảng trong học chế tín chỉ được chúng tôi cơ cấu thành ba phần chính: phần phải biết, phần nên biết và phần có thể biết. Phần phải biết là bộ phận kiến thức được giảng trực tiếp trên lớp; phần nên biết là bộ phận kiến thức được giảng viên hướng dẫn để sinh viên tự học, tự nghiên cứu ngoài giờ lên lớp; phần có thể biết là bộ phận kiến thức có liên quan đến chủ đề chính của mỗi bài giảng (hoặc liên quan đến môn học) được giảng viên giới thiệu, gợi ý, đặc biệt dành cho hoạt động tự học của sinh viên, nhằm mở rộng kiến thức qua việc đối chiếu, so sánh, đánh giá, nhận định. Về phương diện mức độ nhận thức thì chúng tôi đề ra ba mức độ tương đối cụ thể, rõ ràng: mức biết – mức hiểu – mức vận dụng. Mức biết chỉ cần sinh viên tiếp cận và nhớ được tri thức, tái hiện được tri thức mà chưa cần sự lý giải sâu sắc; mức hiểu đặt ra yêu cầu cao hơn, sinh viên có thể phân tích, luận giải và có thể liên hệ đến một số kiến thức liên quan; mức vận dụng đòi hỏi người học phải tư duy nhiều hơn, trên cơ sở những tri thức tương đối hoàn chỉnh về một vấn đề, tiến hành các thao tác tư duy cần thiết để luận giải, nhận định, đánh giá hoặc chứng minh, làm rõ mối liên hệ giữa lý luận với hoạt động thực tiễn trong cùng một phạm vi ngành, thậm chí liên ngành.

2.1.4. Kiểm tra và đánh giá hoạt động tự học, tự nghiên cứu

Trong học chế tín chỉ, hoạt động tự học, tự nghiên cứu của sinh viên thường xuyên được kiểm tra và đánh giá thông qua những bài kiểm tra, các buổi thảo luận, những câu hỏi phát vấn….trong suốt quá trình học của sinh viên.

Trước khi để cho cả lớp thảo luận một chủ đề, đại diện của nhóm sẽ lên báo cáo tóm lược về chủ để mà nhóm đảm nhiệm. Cần lưu ý rằng, mặc dù một thành viên đại diện lên báo cáo nhưng về nguyên tắc thì cả nhóm đều phải nắm vững được nội dung chủ đề, mỗi thành viên đều phải có thời gian tự nghiên cứu trước những kiến thức có liên quan. Để nhắc nhở trách nhiệm này, trong quá trình điều khiển thảo luận, giảng viên thường không để cho duy nhất một thành viên của nhóm trả lời tất cả các thắc mắc, nghi vấn của lớp. Với cách tổ chức thảo luận như thế, mỗi cá nhân sinh viên “bị buộc” phải chủ động và tự giác bố trí thời gian tự học, tự nghiên cứu thật nghiêm túc để đáp ứng yêu cầu của giảng viên đặt ra trong các buổi thảo luận.    

Đối với việc đánh giá thông qua bài kiểm tra hoặc câu hỏi phát vấn thì đơn giản hơn. Giảng viên thỉnh thoảng đặt ra vài câu hỏi nhỏ, thường là những tri thức có liên quan giữ bài học cũ và nội dung đang học – xem đây như liệu pháp giúp sinh viên luôn phải tập trung cao độ theo dõi tiến trình buổi học và có điều kiện “lật lại” tri thức đã học, thấy được mối liên kết giữa các đơn vị kiến thức trong chương trình. Và đương nhiên, giảng viên sử dụng kết quả này làm cơ sở đánh giá điểm quá trình của sinh viên đối với học phần này.

2.2. Thực trạng giảng dạy và học tập lý luận chính trị theo học chế tín chỉ và yêu cầu đổi mới thời gian qua ở Trường Đại học Tiền Giang

2.2.1. Giảng viên đổi mới giảng dạy lý luận chính trị theo học chế tín

Trên thực tế, chúng tôi đã có ý thức đổi mới từng khâu của quá trình giảng dạy từ nhiều năm nay, riêng việc đổi mới phương pháp hướng dẫn tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên được tác giả thực sự quan tâm trong thời gian hơn hai năm qua. Nhìn một cách tổng quan, những đổi mới đã được thực hiện có thể được khái quát như sau:

Thứ nhất, giới thiệu cho sinh viên nắm nội dung tổng quát, mục tiêu của bài học và các yêu cầu về mặt phương pháp luận

Để khởi đầu môn học (sử dụng khoảng 10 – 15 phút trong giờ lên lớp đầu tiên), giảng viên tiến hành giới thiệu một cách tổng quát nội dung cơ bản, kết cấu chương trình và mục tiêu chung của môn học; và trong từng buổi lên lớp sau đó, giảng viên đều giới thiệu một cách cụ thể hơn cho sinh viên nắm được mục tiêu cơ bản của tiết học. Đồng thời, chúng tôi cũng lưu ý với người học về phương pháp tiếp cận, những yêu cầu cụ thể đối với từng nội dung, từng chủ đề tư tưởng trước khi tiến hành thuyết giảng một vấn đề.

Những việc làm này giúp cho sinh viên có điều kiện thể hiện tính tích cực, tự giác và sáng tạo của mình trong quá trình học, trong quá trình tiếp thu và xử lý tri thức mới. Việc nắm bắt trước được nội dung tổng quát đã có tác dụng giúp người học hình dung được tính chất của môn học; biết được kết cấu chương trình sẽ giúp người học chủ động hơn trong việc tìm hiều giáo trình, cũng như các tài liệu tham khảo có liên quan, đặc biệt là có thể chủ động và tự giác tìm tòi và củng cố lại những tri thức khoa học cũ với tính cách là cơ sở nền tảng của những lý luận mới; việc giới thiệu phương pháp tiếp cận đối với từng bài học cũng như đối với toàn bộ môn học sẽ giúp sinh viên tự xác lập cho mình hệ thống các bước tự học, tự nghiên cứu sao cho đạt hiệu quả tối ưu, vì thực tế có những nét khác biệt đặc thù giữa khoa học lý luận so với các lĩnh vực khoa học khác trong quá trình nghiên cứu, lĩnh hội một nội dung nào đó.

Thứ hai, đổi mới về kết cấu thời gian trên lớp: giảm thời lượng giảng dạy tri thức, tăng thời lượng hướng dẫn tự học theo từng tín chỉ

Thời gian qua, giảng viên đang từng bước thực hiện sự đổi mới trong phương thức truyền thụ tri thức cho sinh viên theo hướng tập trung vào nội dung tư tưởng cốt lõi của học thuyết, vận dụng bản đồ tư duy khi có thể, kích thích tư duy của sinh viên ngay trong lúc giới thiệu những tri thức mới, có những nội dung không nhất thiết tuân thủ trình tự đề mục trong giáo trình và đề cương, sử dụng kết hợp phương pháp lô-gích với phương pháp lịch sử để truyền đạt thông tin một cách thích hợp. Vì vậy, so với phương pháp lên lớp truyền thống, tổng thời lượng mà giảng viên trực tiếp thuyết trình trong mỗi tín chỉ được rút ngắn lại, thời gian gợi mở vấn đề và hướng dẫn sinh viên tư duy được tăng lên.

Với sự đổi mới này, nếu sinh viên không tự giác nghiên cứu trước tài liệu thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu bài học trên lớp, bởi lẽ họ không hình dung được tính hệ thống của kiến thức trong mỗi bài, mỗi chương.

Thứ ba, giảng viên sử dụng các câu hỏi để phát vấn sinh viên trong giờ giảng ở trên lớp

Trên cơ sở những hướng dẫn và gợi ý trước về nội dung trọng tâm của từng buổi học, giảng viên thường xuyên nêu câu hỏi phát vấn đã được chuẩn bị kỹ theo kế hoạch đối với các nội dung tri thức mấu chốt trong suốt quá trình đứng lớp. Giảng viên quan niệm đây là một hoạt động quan trọng không thể thiếu trong phương pháp truyền đạt tri thức. Hoạt động này mang nhiều ý nghĩa: vừa là một cách để kiểm tra việc chuẩn bị bài và tinh thần tự giác học tập của sinh viên, vừa tạo cơ hội cho sinh viên thể hiện quan điểm khoa học và tham gia đóng góp vào bài học, đồng thời đây cũng là điều kiện để giữa giảng viên và sinh viên có sự tương tác lẫn nhau. Tất cả các câu trả lời, toàn bộ những ý kiến của sinh viên đều được giảng viên ghi nhận và đánh giá phù hợp, đương nhiên là sau khi giảng viên đã có sự nhận xét cụ thể hoặc nêu lên định hướng cho người học tiếp tục tư duy. Một việc làm có tác động mạnh mẽ và thiết thực trong trường hợp này chính là “ghi điểm”, điều này đã được cụ thể hóa và “thể chế hóa” trong Đề cương chi tiết học phần, tại phần đánh giá môn học. Sự tác động tích cực mang tính cộng hưởng giữa hướng dẫn – phát vấn – nhận xét – đánh giá được thực hiện một cách phù hợp đã trở thành một động lực mạnh mẽ kích thích tinh thần tự học và hoạt động tự nghiên cứu của sinh viên. 

Thứ tư, giảng viên sử dụng những bài kiểm tra nhỏ để kiểm tra kiến thức đã học và dẫn dắt vào bài mới sắp học:

Từ nhiều năm qua, Bộ môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin đã biên soạn Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan để sử dụng kiểm tra và thi kết thúc học phần cho sinh viên. Từ những câu hỏi sẵn có này, giảng viên tự xây dựng nên những đề kiểm tra quy mô nhỏ, thông thường có thời lượng làm bài trung bình là 07 phút. Những bài kiểm tra này đa số được tiến hành vào đầu giờ học, với số lượng sinh viên được kiểm tra ngẫu nhiên khoảng 10 – 15 tùy thuộc sỉ số của lớp học, kết quả được sử dụng làm cơ sở đánh giá điểm quá trình của học phần. Tuy nhiên, giảng viên cũng thỉnh thoảng sử dụng những phút cuối của buổi học để thực hiện công việc kiểm tra này. Mục tiêu hướng đến của hoạt động này bao gồm cả việc củng cố những kiến thức vừa học và gợi mở những kiến thức sắp học trong buổi kế tiếp. Bên cạnh hình thức trắc nghiệm, giảng viên có lồng ghép, đan xen các câu hỏi tự luận theo hướng mở, nhằm khuyến khích sinh viên tư duy độc lập và phát huy tính năng động, sáng tạo trong sự vận dụng tri thức lý luận vào việc giải quyết các tình huống có vấn đề trong thực tiễn.

Thứ năm, giảng viên cung cấp những nội dung tự học và hướng dẫn cách học cho sinh viên

Với cấu trúc của Đề cương chi tiết học phần đang được Bộ môn sử dụng hiện nay, những nội dung nào thuộc phần giảng trên lớp và nội dung nào thuộc phần tự học, tự nghiên cứu của sinh viên đều được quy định rõ và thể hiện rõ trên văn bản. Vì vậy, sinh viên nói chung và đặc biệt là những sinh viên có ý thức tự học cao khi tiếp cận được Đề cương chi tiết sẽ có thể chủ động hơn, tự giác hơn trong việc chuẩn bị bài trước khi lên lớp. Một vần đề mang tính nguyên tắc về mặt lô-gích khoa học là giữa nội dung thuộc phần giảng trên lớp với nội dung thuộc phần tự học tất nhiên có mối liên hệ rất chặt chẽ về nhiều phương diện, hợp thành một hệ thống hữu cơ, đảm bảo tính đầy đủ và hoàn chỉnh của mỗi bài học hay mỗi chương, mỗi chủ đề cụ thể.

Những nội dung tự học đối với mỗi bài, mỗi chương đã được xác định, vấn đề còn lại chính là giảng viên phải hướng dẫn phương pháp tiếp cận từng nội dung kiến thức cụ thể để tạo điều kiện cho sinh viên tự học, tự nghiên cứu trong thời gian ngoài lớp. Khi đã được trang bị phương pháp và định hướng cho việc tự học, bản thân của mỗi sinh viên phải tự giác và chủ động phát huy tính tích cực, tính sáng tạo, năng lực tư duy…., nói chung là các nhân tố chủ quan của mình nhằm bước đầu lĩnh hội một cách cơ bản những tri thức mới. Có làm được như vậy, sinh viên mới không rơi vào tình trạng bỡ ngỡ, hụt hẫng về mặt kiến thức với phương pháp truyền thụ mới của giảng viên.

Thứ sáu, giảng viên giao cho sinh viên các câu hỏi hoặc chủ đề chuẩn bị thảo luận, hướng dẫn cách tìm kiếm tư liệu, giới thiệu các nguồn tư liệu đa dạng cho sinh viên

Để hình thành thói quen và kích thích năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên, chúng tôi luôn có những buổi thảo luận trong chương trình giảng dạy song song với những giờ thuyết giảng các nội dung lý luận. Những câu hỏi hoặc chủ đề được đặt ra trong buổi thảo luận thường được xây dựng theo hai hướng – quan điểm, tư tưởng chủ đạo và/ hoặc vận dụng lý luận giải quyết vấn đề trong thực tiễn. Vì thời lượng của các buổi thảo luận rất hữu hạn, nên giảng viên thường chỉ cho lớp thảo luận những chủ đề trọng tâm, hoặc vận dụng các học thuyết để nêu ra cách giải quyết, xử lý đối với các vấn đề, tình huống giả định, nhằm từng bước giúp người học biết cách gắn kết giữa các tri thức lý luận với đời sống thực tiễn sinh động.

Nhằm tạo điều kiện cho các buổi thảo luận đạt hiệu quả tối ưu, giảng viên thường xuyên và liên tục giới thiệu, cập nhật cho sinh viên các tài liệu có liên quan, từ các giáo trình chính thống đến các sách tham khảo, chuyên khảo, thậm chí  một số bài viết hay tác phẩm có quan điểm, lập trường đối lập nhau (để sinh viên có thể so sánh – đối chiếu và luận chứng tính đúng đắn hay sai lầm, điểm tích cực hay hạn chế của các tư tưởng, học thuyết). Với nguồn tài liệu phong phú và đa dạng, có thể tìm trên thư viện hoặc trên mạng Internet một cách dễ dàng, có những tài liệu tham khảo của cá nhân giảng viên cũng được cung cấp đến sinh viên khi cần thiết, nên giảng viên mạnh dạn giao nhiệm vụ cho các nhóm (thành phần nhóm thường có sự hoán đổi, tạo điều kiện cho các nhóm mới được hình thành ngẫu nhiên và liên tục) chuẩn bị chu đáo nội dung trả lời cho một hay một vài câu hỏi hoặc chủ đề nào đó.

Thứ bảy, khuyến khích tinh thần dân chủ trong khoa học, tạo không khí hưng phấn trong lớp học

Một nguyên tắc được giảng viên thực hiện nhất quán trong quá trình giảng dạy là luôn khuyến khích tinh thần dân chủ trong khoa học cho toàn thể sinh viên. Trước hết,  trong các cuộc thảo luận nhóm theo chuyên đề hoặc trong một số bài kiểm tra theo hướng “mở” thì mọi câu trả lời với tính cách là sản phẩm của tư duy nghiêm túc đều được tôn trọng; thứ hai, giảng viên chú trọng đến tính thuyết phục trong việc trình bày các quan điểm, các học thuyết, cố gắng không để xảy ra tình trạng “áp đặt” tri thức (đặc biệt, lại là tri thức lý luận – cơ sở nền tảng của các đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước); thứ ba, luôn nhiệt tình và cố gắng trả lời hoặc gợi ý, định hướng tất cả những thắc mắc của sinh viên có liên quan đến môn khoa học mình đảm nhiệm; cuối cùng, mọi nhận xét và đánh giá cũng như kết quả điểm số đều được thực hiện một cách công bằng và công khai ngay trên lớp học.

2.2.2. Một số kết quả đạt được

 Với tinh thần chủ động và tự giác trong việc đổi mới phương pháp hướng dẫn tự học, chúng tôi nhận thấy trong thời gian qua, kết quả học tập của sinh viên nói chung và tinh thần tự học, năng lực tự nghiên cứu của sinh viên có những chuyển biến tích cực đáng ghi nhận:

 - Đa số sinh viên đã có sự chủ động và tự giác trong việc chuẩn bị bài ở nhà và ngoài giờ học trên lớp. Được sự định hướng và gợi ý tận tình của giảng viên nên sinh viên đã hình thành và hoàn thiện dần kỹ năng làm việc nhóm, trao đổi kinh nghiệm làm việc nhóm, ngày càng đạt hiệu quả cao hơn;

- Nhiều sinh viên đã có thói quen đọc sách, tự nghiên cứu tài liệu tham khảo nhằm đào sâu thêm những kiến thức được giảng dạy trên lớp; biết phát hiện những vấn đề mới trong khoa học và trao đổi, tranh luận với bạn bè cùng lớp;

- Trên lớp, trong giờ học, khi chú ý nghe giảng viên thuyết trình, đa số sinh viên đã biết cách ghi chép thông tin mà giảng viên cung cấp (một số ít đã có kỹ năng ghi chép khá tốt); trong những giờ thảo luận, sinh viên cũng mạnh dạn phát biểu, thể hiện chính kiến, quan điểm của cá nhân trên cơ sở đã chuẩn bị khá chu đáo ở nhà nên nhìn chung, các buổi thảo luận đã có sự chuyển biến tích cực so với trước đây;

- Dưới sự tác động cộng hưởng giữa “không khí dân chủ trong khoa học” với việc “đánh giá, ghi điểm”, nhiều sinh viên đã chủ động nêu lên những vướng mắc, băn khoăn mà họ gặp phải trong quá trình tự học, tự nghiên cứu; với sự đổi mới này, sinh viên cảm thấy những tiết học thường được xem là “khô khan” và “nặng nề” trở nên “nhẹ nhàng” và “thú vị” hơn vì bản thân sinh viên có cơ hội nói lên suy nghĩ, nhận thức của mình và lắng nghe, nhận xét những ý kiến, quan điểm của bạn học nhiều hơn.

Bên cạnh những kết quả quan trọng, thì những hạn chế từ nhiều phương diện vẫn còn tồn tại trong bối cảnh hiện nay của sinh viên trường Đại học Tiền Giang: không gian và điều kiện ở tại trường cũng như nơi các sinh viên ở trọ không hoặc chưa đảm bảo tốt cho hoạt động tự học, tự nghiên cứu; thời khóa biểu của sinh viên (bao gồm cả học chính khóa và tin học, ngoại ngữ…) cũng làm hạn chế quỹ thời gian của sinh viên; chưa có tủ sách chuyên ngành cho sinh viên tham khảo dễ dàng; nhiều sinh viên có hoàn cảnh khó khăn phải tranh thủ làm thêm ngoài giờ học; vẫn còn nhiều sinh viên chưa tích cực và tự giác trong việc học nhóm, nghiên cứu và trao đổi các chuyên đề được giao…

2.3. Một số kiến nghị

Từ những kết quả bước đầu đạt được và các hạn chế còn tồn tại sau hơn hai năm tiến hành đổi mới phương pháp hướng dẫn tự học cho sinh viên, tác giả có một vài kiến nghị như sau nhằm tiếp tục phát huy những mặt “được” và khắc phục những mặt “chưa được” trong thời gian tới:

Trước tiên, về phía nhà trường: tổ chức các lớp học phần cho sinh viên phải đảm bảo số lượng phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tương tác giữa người dạy và người học được diễn ra nhiều hơn và đặc biệt là các giờ thảo luận, kiểm tra, đánh giá sinh viên thực sự đạt chất lượng; phải sớm có kế hoạch xây dựng không gian học tập cho sinh viên, giúp sinh viên có nơi làm việc nhóm, trao đổi học thuật; xây dựng tủ sách chuyên ngành để lưu trữ và thường xuyên cập nhật tài liệu mới phục vụ cho hoạt động tự học, tự nghiên cứu của sinh viên tốt hơn…

Tiếp theo là, về phía giảng viên: cần thiết phải có sự phối hợp đồng bộ và hiệu quả giữa các bộ môn về đổi mới phương pháp giảng dạy để hình thành thói quen tự học cho sinh viên; tiếp tục thực hiện và phát huy tính hiệu quả, thiết thực của cuộc thi “Đọc sách chuyên ngành” ở tất cả các học phần, tạo động lực cho sinh viên rèn luyện kỹ năng đọc và hình thành văn hóa đọc – một yếu tố cực kỳ quan trọng của tự học, tự nghiên cứu; mạnh dạn và thường xuyên giới thiệu tài liệu quan trọng, tài liệu mới mang tính thời sự và giao nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể cho sinh viên, có kiểm tra và đánh giá bằng hình thức phù hợp; thay đổi quan niệm và phương thức đánh giá việc học của sinh viên theo hướng đề cao năng lực tư duy, thái độ và phương pháp tự học, kỹ năng vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn…

Cuối cùng, về phía sinh viên: phải tự xác định động cơ và mục tiêu của việc học tập, từ đó có thái độ đúng đắn và nghiêm túc, tự giác trong tự học, tự nghiên cứu; phải kiên trì rèn luyện kỹ năng đọc, phương pháp xử lý thông tin, tư liệu một cách chủ động và khoa học; phải tập thói quen làm việc nhóm, thuyết trình và chứng minh các luận điểm khoa học; có thời gian biểu tương đối ổn định và hợp lý giữa giờ học trên lớp và giờ tự học ở nhà, ở thư viện tùy theo điều kiện và hoàn cảnh riêng của mỗi cá nhân…

3. KẾT LUẬN

Tóm lại, tầm quan trọng của việc tự học, tự nghiên cứu đối với sinh viên khi được tào tạo theo học chế tín chỉ đã được thực tiễn giảng dạy chứng minh và khẳng định. Vì vậy, hoạt động đổi mới hướng dẫn sinh viên tự học, tự nghiên cứu cần phải được tiếp tục triển khai thực hiện rộng rãi và mạnh mẽ hơn trong thời gian tới ở trường Đại học Tiền Giang. Đương nhiên, phương pháp và quy trình thực hiện cụ thể như thế nào còn chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau. Song, về cơ bản thì cần phải có sự quyết tâm, nỗ lực và chủ động phối hợp thực hiện một cách đồng bộ và nhịp nhàng giữa nhà trường – giảng viên – sinh viên trong quá trình dạy – học, cũng như trong việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Nếu thực hiện tốt được các việc nêu trên, chúng tôi cho rằng, hoạt động tự học và tự nghiên cứu của sinh viên – với tính cách là một khâu cơ bản, then chốt của phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ sẽ có những bước phát triển mới về chất trong thời gian sắp tới tại trường Đại học Tiền Giang./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bộ Giáo dục và đào tạo (2012). Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội.

[2] Đào Đức Doãn, Trần Đăng Sinh (2006). Triết học – Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy. NXB Đại học Sư phạm. Hà Nội.

[3] Đặng Xuân Hải (2013). Kỹ thuật dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ. NXB Bách Khoa. Hà Nội.

[4] Thái Duy Tuyên (2007). Triết học giáo dục Việt Nam. NXB Đại học Sư phạm. Hà Nội.

 

MỘT VÀI TRAO ĐỔI VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN SINH VIÊN TỰ HỌC GẮN VỚI ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY, KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ ĐỐI VỚI MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TIỀN GIANG

 

ThS Cao Thị Tuyết Loan

(Khoa Lý luận chính trị)

TÓM TẮT

Quá trình giáo dục thực chất là quá trình biến người học từ khách thể giáo dục thành chủ thể giáo dục. Do đó, tự học được xem là một xu thế tất yếu, giúp nâng cao kết quả học tập của người học và chất lượng giáo dục của nhà trường, là biểu hiện cụ thể của việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá ở các trường học. Trong điều kiện học tập ở nhà trường như nhau nhưng kết quả học tập của sinh viên khác nhau rõ rệt, điều đó phần lớn là do khả năng tự học của mỗi sinh viên. Tuy nhiên để rèn luyện, hình thành kỹ năng tự học trong sinh viên, bên cạnh nỗ lực của bản thân mỗi sinh viên, giảng viên cần phải đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá và xem tự học như là một tiêu chí hàng đầu trong quá trình đào tạo. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin trao đổi một vài vấn đề xung quanh việc hướng dẫn sinh viên tự học gắn với đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá khi áp dụng đối với môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin tại Trường Đại học Tiền Giang.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Vấn đề tự học ở sinh viên là một vấn đề không hề đơn giản. Muốn hoạt động học tập đạt kết quả cao, đòi hỏi sinh viên phải tự giác, không ngừng tìm tòi học hỏi. Ngoài ra, sự định hướng của giảng viên đóng vai trò quyết định thúc đẩy sự thành công trong việc chiếm lĩnh tri thức của người học. Do đó, để rèn luyện kỹ năng tự học của sinh viên, giảng viên phải thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá gắn với yêu cầu tự học của sinh viên.

Trong ba học kỳ (từ năm học 2013 – 2014 đến nay) triển khai thực hiện “Đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá và hướng dẫn tự học” của Khoa Lý luận chính trị đối với các môn Lý luận chính trị, cụ thể là môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin tại trường Đại học Tiền Giang, tác giả xin trao đổi một số kinh nghiệm bước đầu.

1. Những việc giảng viên đã làm để phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên

- Trong giảng dạy và hướng dẫn sinh viên tự học:

Thứ nhất, hướng dẫn cho sinh viên cách xây dựng kế hoạch học tập. Ngay từ tiết học đầu tiên của môn học, giảng viên luôn dành thời gian giới thiệu về chương trình, đề cương chi tiết môn học, nội dung và phương pháp học một cách khái quát nhất để sinh viên có cái nhìn tổng quát về môn học và từ đó, tự xây dựng cho mình kế hoạch học tập phù hợp. Thiết nghĩ, nếu mỗi tiết học, sinh viên bắt đầu từ “mốc số không”, vào giờ học mới bắt đầu khởi động thì đó là học tập bị động, kém chủ động. Để rèn luyện kĩ năng tự học, rèn phong cách học tập tích cực, chủ động cho sinh viên, giảng viên hướng dẫn sinh viên cách học tập, chuẩn bị bài trước ở nhà, khi đến lớp sẽ chủ động, không phải mất thời gian làm quen với bài học mới. Sinh viên có thể nhanh chóng nắm bắt kiến thức mới, trả lời tốt các câu hỏi của giảng viên, tự trình bày những nội dung đã nghiên cứu trước ở nhà và có thể phản biện các nội dung của bạn trình bày.

Thứ hai, hướng dẫn sinh viên cách tìm, đọc tài liệu tham khảo và làm việc nhóm. Đặc biệt là nhấn mạnh cho sinh viên thấy rằng, kiến thức môn học không chỉ gói gọn trong nội dung giáo trình, trong bài giảng của giảng viên mà đến từ nhiều nguồn khác nhau: tài liệu tham khảo, internet, báo, đài,… Sinh viên có thể đọc giáo trình, tài liệu trước nhưng không có sự hướng dẫn của giảng viên thì chất lượng đọc - hiểu rất hạn chế. Vì vậy, giảng viên cần có biện pháp hướng dẫn học cụ thể hiệu quả mới kích thích được tính tích cực của sinh viên. 

Thứ ba, hướng dẫn cách sinh viên tự học sau khi lên lớp. Việc làm này không quá khó khăn với sinh viên vì trong đề cương chi tiết môn học đã nêu cụ thể nội dung chuẩn bị ở nhà, ôn tập hoặc thi, kiểm tra nội dung gì, vào thời gian nào và mức độ nhận thức,... Đặc điểm của giai đoạn này là sinh viên đã có kiến thức và kĩ năng bước đầu. Nhiệm vụ tiếp theo là củng cố, mở rộng kiến thức cho sinh viên. Do đó, câu hỏi và bài tập cần chú trọng hướng sinh viên vào các năng lực: hệ thống hóa, khái quát tổng hợp, kết nối, tổng thuật nhiều tài liệu, tiếp tục giải quyết các bài tập, tình huống gắn với thực tế,… 

Thứ tư, dựa trên đặc điểm và mục tiêu của bài học, của mỗi hoạt động phải thực hiện trong bài học mà giao nhiệm vụ cụ thể cho sinh viên ở buổi học tiếp theo để phát huy năng lực tự học của sinh viên. Giảng viên thường xuyên quan sát, theo dõi cá nhân sinh viên, nhóm sinh viên trong quá trình học tập để có nhận định, động viên hoặc gợi ý, hỗ trợ kịp thời đối với từng việc làm, từng nhiệm vụ của mỗi cá nhân hoặc của cả nhóm sinh viên. Khi sinh viên hoàn thành nhiệm vụ thứ nhất thì chuyển sang nhiệm vụ thứ hai cho đến khi hoàn thành bài học. Đồng thời, giảng viên chấp nhận sự khác nhau (nếu có) về thời gian, tiến độ hoàn thành từng nhiệm vụ học tập của các sinh viên trong lớp.

Thứ năm, giới thiệu về môn học, về những giá trị của môn học trong thực tiễn bằng những ví dụ minh họa cụ thể nhằm kích thích động cơ học tập ở sinh viên. Trong giảng dạy, thảo luận, giảng viên thường xuyên đặt vấn đề với sinh viên là vì sao nó như vậy? Hoặc đặt ngược vấn đề mà lí luận đặt ra. Có như vậy, sinh viên mới tìm tòi, khám phá và kiến thức lĩnh hội được mới sâu sắc. Thông qua đó động viên, giúp đỡ các em học tập, rèn luyện, phát triển kỹ năng sống, vận dụng kiến thức vào cuộc sống và tham gia các hoạt động xã hội, tìm hiểu về những sự vật, hiện tượng tự nhiên và văn hóa, lịch sử, nghề truyền thống,... của địa phương.

Học kỳ 1, năm học 2014 – 2015, Đề cương chi tiết học phần quy định một cột điểm chuyên cần nên phần nào chấm dứt tình trạng bỏ lớp, bỏ tiết của những sinh viên. Tuy nhiên không vì thế mà bản thân người dạy quên chú ý đến cách dạy và hiệu quả của bài giảng. Bởi bài giảng của giảng viên có thu hút được sinh viên, tiết học có sự sôi động, hứng thú, phương pháp dạy tích cực mới thu hút sinh viên học tập, tham khảo sách vở, báo đài, tăng tính tư duy, suy luận, vận dụng tốt kiến thức mà ứng dụng vào môn học.

Thứ sáu, tăng cường tính năng động của sinh viên: trên lớp giảng viên chỉ trình bày bài giảng của mình 50%, còn sinh viên phải tự học 50%, điều đó đòi hỏi sinh viên không thể thụ động như trước nữa mà phải chủ động tích cực tìm hiểu xây dựng bài. Trong quá trình dạy, các hình thức dạy học nhóm, trao đổi thảo luận,... luôn được tăng cường, buộc sinh viên phải nghiên cứu tài liệu, phân tích, mổ xẻ các vấn đề trên nhiều khía cạnh khác nhau để có thể tham gia đóng góp hoặc tranh luận để bảo vệ ý kiến của mình.

- Trong kiểm tra, đánh giá kiến thức được học trên lớp và kiến thức tự học, tự nghiên cứu của sinh viên:

Trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một khâu quan trọng nhằm xác định thành tích học tập và mức độ chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, vận dụng của người học. Đối với sinh viên, kiểm tra, đánh giá có tác dụng thúc đẩy quá trình học tập phát triển không ngừng. Qua đó, sinh viên tự đánh giá mức độ đạt được của bản thân, để có phương pháp ôn tập, củng cố, bổ sung nhằm hoàn thiện học vấn bằng phương pháp tự học với hệ thống thao tác tư duy của chính mình. Đối với giảng viên, kết quả kiểm tra, đánh giá giúp mỗi giảng viên tự đánh giá quá trình giảng dạy của mình. Trên cơ sở đó không ngừng nâng cao và hoàn thiện mình về trình độ chuyên môn, phương pháp giảng dạy.

Thứ nhất, tùy theo ngành, hệ đào tạo mà giảng viên có những hình thức đánh giá, kiểm tra khác nhau (tự luận, trắc nghiệm, vấn đáp, bài tập nhóm, bài tập tình huống,…) nhưng vẫn đảm bảo nội dung theo Đề cương chi tiết học phần, quy định của Bộ môn, Khoa và quy chế của nhà trường.

Thứ hai, những hình thức đánh giá luôn gắn lý thuyết với thực tiễn (kiểm tra viết, trắc nghiệm, giải bài tập tình huống,...); luôn đảm bảo giữa nội dung học trên lớp và tự học tại nhà. Đề kiểm tra phạm vi kiến thức vừa phải. Kết quả kiểm tra và thi kết thúc học phần được nâng cao rất nhiều. Đặc biệt, trong học kỳ 1, năm học 2014 – 2015, kết quả kiểm tra cao hơn những học kỳ của các năm học trước. Lý do là việc phổ biến hệ thống câu hỏi trắc nghiệm cho sinh viên, tính tự học đã được phát huy trong sinh viên.

Thứ ba, việc ra đề thi giữa học phần thống nhất trong bộ môn đã đảm bảo sự công bằng và khách quan trong việc đánh giá năng lực học tập sinh viên. Đề thi giữa học phần bám vào nội dung giáo trình, trên cơ sở đó có những câu, những phần sâu, rộng đòi hỏi sinh viên suy nghĩ, tìm tòi và vận dụng kiến thức xã hội để trả lời.

Thứ tư, thường xuyên kiểm tra và rút kinh nghiệm về hoạt động tự học của sinh viên, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, tồn tại của hoạt động tự học trong sinh viên. Nêu những gương điển hình, tích cực, hiệu quả trong hoạt động tự học, phê bình những sinh viên chưa chuẩn bị bài trước khi đến lớp, chưa làm bài tập được giao về nhà. Từ đó tạo phong trào thi đua tự học trong sinh viên. Thực hiện công khai qui trình kiểm tra, đánh giá kết quả tự học, tự nghiên cứu của sinh viên. Cộng điểm vào cột kiểm tra đối với những sinh viên tích cực trong học tập, tham gia phát biểu trả lời thường xuyên.

2. Một vài kết quả bước đầu:

Sau ba học kỳ thực hiện, tác giả nhận thấy:

- Tinh thần thái độ học tập của sinh viên tích cực hơn trước, biết lắng nghe và  chọn lọc nội dung cốt lõi để ghi chép, quan tâm và trình bày ý kiến của mình xoay quanh những vấn đề chính trị - kinh tế - xã hội nóng bỏng có liên quan đến bài giảng. Tự học, tự nghiên cứu, tự làm đề cương thảo luận tương đối khá, kiến thức cơ bản nắm vững hơn. Có những sinh viên thường xuyên nghiên cứu đề cương chi tiết môn học, giáo trình, tài liệu hoặc thực hiện theo nhóm chuẩn bị bài trước khi đến lớp, thường xuyên học bài, làm bài tập về nhà.

- Hình thức kiểm tra ngày càng thêm đổi mới nâng cao trình độ giảng dạy của giảng viên và tính tích cực sáng tạo của sinh viên.

- Các câu hỏi trắc nghiệm sau khi phổ biến cho sinh viên được đưa ra xem xét thảo luận một cách nghiêm túc đã trở thành một phương pháp dạy học tích cực giúp người học chiếm lĩnh kiến thức một cách tích cực, đồng thời giúp cho người dạy kịp thời bổ sung điều chỉnh hoạt động dạy cho có hiệu quả.

- Sinh viên tự tin hơn trong việc phát biểu trước đám đông, tránh được tình trạng rụt rè, thụ động. Số sinh viên vắng học giảm. Sinh viên biết tự cố gắng để có những cột điểm kiểm tra thường xuyên cao. Kết quả học tập của sinh viên được nâng cao.

- Giảng viên ngày càng hứng thú, sáng tạo hơn trong công tác giảng dạy. Trách nhiệm của giảng viên nhiều hơn và quan hệ thầy trò gắn bó hơn.

3. Một số khó khăn gặp phải như sau:

- Do khối lượng kiến thức lý thuyết nhiều, phải tiếp thu trong thời gian ngắn đã gây áp lực đối với sinh viên, một bộ phận sinh viên chưa tiếp thu cao bài giảng của giảng viên.

- Với số lượng sinh viên rất đông nên khi dạy việc tính điểm chuyên cần của sinh viên chỉ có thể tương đối. Mặt khác, việc theo dõi sinh viên học như thế nào, có thực hiện đúng theo yêu cầu của giảng viên về tự học hay không là rất khó. Sinh viên ít có cơ hội phát biểu thảo luận, hạn chế đến việc phát huy khả năng sáng tạo của người học. Một bộ phận nhỏ sinh viên còn chưa xác định đúng đắn động cơ học tập, chưa nỗ lực, chưa cố gắng trong quá trình tự học, chưa nhận thức đầy đủ các kỹ năng tự học cần thiết, chưa biết cách rèn luyện thường xuyên các kỹ năng tự học trong quá trình học tập, học còn mang tính hình thức, đối phó. Bên cạnh đó, giảng viên tốn nhiều thời gian cho việc tổ chức thi giữa học phần. Để tránh trao đổi hoặc đổi bài cho nhau, bộ môn đã sử dụng 4 đề thi nhưng do lớp đông (từ 70 sinh viên trở lên), giảng viên phải chia lớp ra nhiều đợt kiểm tra nên rất mất thời gian.

- Việc phổ biến ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm một mặt đảm bảo độ rộng của kiến thức, giúp sinh viên làm quen với các dạng câu hỏi trắc nghiệm, chủ động hơn trong học tập, nhưng lại gây tâm lí ỷ lại từ phía sinh viên. Một số sinh viên chỉ chú trọng phần trắc nghiệm; một số chủ quan vì kết quả kiểm tra quá trình cao, có tâm lý học tủ, nên khi thi kết thúc học phần, kết quả phần tự luận rất thấp, chỉ đạt từ 0,5 - 2.5 điểm/5.0 điểm, chiếm tỷ lệ 80% (thống kê trên 200 bài thi). Sinh viên đậu phân môn nhiều nhưng chất lượng thi không cao.

- Một số sinh viên còn dành nhiều thời gian tham gia hoạt động đoàn thể, làm thêm nên chưa tập trung cao vào việc học, chưa tìm đến trung tâm thông tin thư viện để mượn, đọc tài liệu có liên quan đến môn học (kể cả những tài liệu tham khảo đã được giới thiệu trong Đề cương chi tiết học phần)

- Đối với những sinh viên không đạt yêu cầu phải học lại, giảng viên đã tạo điều kiện tốt, tận tình giúp đỡ để các em có thể đạt kết quả tốt ở đợt học lại. Nhưng do học lớp ghép đông nên việc đánh giá điểm chuyên cần còn khó khăn, mặt khác các em còn vắng nhiều buổi lên lớp (lý do trùng giờ học) dẫn đến chất lượng học tập thấp. 

Những khó khăn trên một phần do nguyên nhân khách quan, như chương trình học nhiều, số tiết giảm, lớp đông và chưa được định hướng một cách cụ thể trong hoạt động tự học,... một phần do các em chưa có ý thức tự giác trong quá trình học tập. Do vậy, vai trò của người giảng viên trong việc phát triển kỹ năng tự học của sinh viên nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học là hết sức quan trọng.

4. Một số kiến nghị:

Để hoạt động tự học của sinh viên thật sự phát huy được tác dụng và hiệu quả, tác giả đã đưa ra một vài kiến nghị:

- Giảng viên cần đề ra kế hoạch dạy học cụ thể toàn bộ học phần, hoặc từng chương (dựa vào Đề cương chi tiết học phần, hoặc trên cơ sở này, giảng viên tự xây dựng), cung cấp trước cho sinh viên nghiên cứu để biết mình sẽ làm gì và làm như thế nào trong quá trình học tập bộ môn. Đây cũng là cơ sở để định hướng cho sinh viên vạch ra kế hoạch tự học cá nhân.

- Trong giảng dạy, thảo luận, giảng viên nên thường xuyên đặt vấn đề với sinh viên là vì sao? hoặc đặt ngược vấn đề mà lí luận đặt ra. Có như vậy, sinh viên mới tìm tòi, khám phá và kiến thức lĩnh hội được mới sâu sắc.

- Có biện pháp khuyến khích các sinh viên có ý thức tự học, tạo động lực học tập cho các cá nhân sinh viên cũng như phong trào tự học trong sinh viên.

- Việc kiểm tra phải phù hợp với từng khối lớp, hệ đào tào, tạo điều kiện thuận lợi cho người học. Việc kiểm tra cần phải linh hoạt vừa tái hiện kiến thức vừa tăng cường sự tư duy tích cực của sinh viên, nhất là trong việc xử lý những tình huống thực tế. Hình thức tổ chức kiểm tra, đánh giá cần phải mang tính thường xuyên, đa dạng (viết, vấn đáp, tự luận,...). Giảng viên phải là người tự chủ và chịu trách nhiệm. Có như vậy mới đánh giá một cách toàn diện quá trình học tập của sinh viên, khuyến khích và kích thích tinh thần trách nhiệm và ý thức nỗ lực của sinh viên cũng như nâng cao trình độ chuyên môn và tay nghề của giảng viên. 

- Việc kiểm tra đánh giá phải gắn liền với việc thực hiện nội quy, quy chế của trường, không chỉ là kết quả học tập mà phải gắn liền với quá trình rèn luyện đạo đức của sinh viên. Đánh giá sinh viên trong suốt quá trình học chứ không nghiêng về các bài kiểm tra.

- Biên soạn ngân hàng đề thi phải đảm bảo vừa đáp ứng kiến thức căn bản, vừa tăng cường sự tư duy tích cực của sinh viên.

- Không nên đặt nặng vấn đề điểm chuyên cần, tùy theo đặc điểm từng hệ đào tạo, quá trình học tập của sinh viên mà có giải pháp thích hợp, công bằng trong việc cho điểm chuyên cần đối với sinh viên.

KẾT LUẬN

Việc hướng dẫn sinh viên tự học gắn với đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá của giảng viên đối với môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin nói riêng và trong giáo dục nói chung là khâu quan trọng, thường xuyên trong giảng dạy. Kết quả của nó phản ánh trách nhiệm, trình độ và đạo đức của nhà giáo nhưng để hoạt động này đảm bảo đạt đúng mục đích của nó thì cần có sự nỗ lực rất lớn của nhà trường mà đặc biệt là của bản thân mỗi giảng viên trong việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy của mình.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Nguyễn Thanh Bình (2006), Lý luận Giáo dục học Việt Nam, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội.

[2]. Phó Đức Hòa, Ngô Quang Sơn (2011), Phương pháp và công nghệ dạy học trong môi trường sư phạm tương tác, Nxb Đại học sư phạm, Tp HCM.

[3]. Lê Công Triêm (chủ biên) (2002), Một số vấn đề hiện nay của phương pháp dạy học hiện đại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

[4]. Vũ Quốc Trung, Lê Hải Yến (2003), Để tự học đạt được hiệu quả, Nxb. Sư phạm, Hà Nội.

 

“TỰ HỌC” – YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

 

                                                                                            Đoàn Văn Re

                                                                                   (Khoa Lý luận chính trị)

Tóm tắt

          Thế giới ngày nay luôn vận động và phát triển không ngừng. Để thích ứng với sự thay đổi đó, đòi hỏi chúng ta phải luôn chủ động, sáng tạo, tìm tòi và khám phá không ngừng. Học ở trường và ở trên lớp dưới sự giảng dạy của giảng viên thì chưa đủ để tạo nên sự thay đổi đó. Chỉ có tự học và chiếm lĩnh tri thức mới có thể làm chủ bản thân và thế giới. Bánh xe lịch sử chỉ lăn khi có sự chung tay của người dạy và người học trong quá trình tự học.

A-ĐẶT VẤN ĐỀ

Trên thế giới có rất nhiểu nhân vật lỗi lạc mà mỗi khi nhắc đến, ai ai trong chúng ta cũng đều khâm phục và ngưỡng mộ. Chẳng hạn, Thomas Edison (1847-1931) - nhà phát minh nổi tiếng của mọi thời đại đã có hơn 1.000 phát minh, trong đó phải kể đến là phát minh ra bóng đèn điện năm 1870. Hay Steven Paul Jobs (1955-2011) - chuyên gia làm thay đổi thế giới trong lĩnh vực công nghệ thông tin hiện đại. Một người khác, có thể kể đến là Bil Gates (1955) – một trong những doanh nhân nổi tiếng về cuộc cách mạng máy tính cá nhân, người tham gia sáng lập tập đoàn Microsoft. Ở Việt Nam, một nhân vật lỗi lạc và là lãnh tụ đạt đến tầm uyên bác, không ai khác chính là Hồ Chí Minh. Sự lỗi lạc đáng khâm phục đó phải chăng đến từ việc học tập một cách bài bản và có hệ thống ở các trường đại học? Mỗi người với mỗi hoàn cảnh khác nhau, nhưng để có được thành tựu đó, tất cả đều có điểm chung là ở sự tự học, tự nghiên cứu không ngừng.

Thế giới ngày nay vận động và phát triển không ngừng. Tư duy con người cũng vậy, nếu không tự bồi đắp và làm giàu thêm tri thức của bản thân, thì nhận thức sẽ lạc hậu và nhanh chóng bị đào thải. Chỉ có sự chủ động, sáng tạo và cố gắng không ngừng với tinh thần độc lập, tự chủ cao độ, con người mới có thể bắt kịp với sự phát triển như vũ bão của thời đại. Tất yếu đó, đòi hỏi giáo dục cũng phải thay đổi để thích ứng, bởi: “Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới”(Nelson Mandela). Không ngừng tìm tòi và hoàn thiện cách thức đào tạo, đặc biệt là chuyển từ đào tạo theo niên chế - lấy người dạy làm trung tâm - sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ - lấy người học làm trung tâm - đã tạo nên một bước chuyển biến mạnh mẽ, khơi dậy tiềm năng vô tận của con người. Tuy nhiên, với cách thức đào tạo mới đòi hỏi con người phải đáp ứng ở một mức độ cao hơn, đặc biệt là phải có năng lực tự học, tự nghiên cứu. Đây chính là thực chất của quá trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ.

B - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1. Tự học và vai trò của quá trình tự học

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về tự học. Theo nhà tâm lý học N. Arubakin thì: “Tự học là tự tìm lấy kiến thức”. Còn theo GS. Henri Holec – nhà ngôn ngữ học người Pháp khẳng định: “Tự học là khả năng tự lo cho việc học của chính mình”; Ở Việt Nam, GS.TSKH. Thái Duy Tuyên cho rằng: “Tự học là một hoạt động độc lập chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ cùng các phẩm chất, động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”... Mặc dù, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “tự học”, tuy nhiên, ta thấy ở các tác giả đều có chung một điểm là đều khẳng định tự học là một quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập, tự chiếm lĩnh thông tin tri thức. Và “...chỉ có qua con đường tự học, loài người mới có thể phát triển mạnh mẽ lên được" (Herrert Spencer). Tự học chính là cánh cửa đưa nhân loại đi đến thành công, quyết định kết quả của việc đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Vai trò này thể hiện ở chỗ, tự học giúp hình thành ở người học tính tích cực, chủ động, sáng tạo; là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu giúp chúng ta phát hiện, hiểu rõ bản chất của vấn đề một cách sâu sắc, đồng thời định hướng và giúp con người giải quyết những vấn đề do cuộc sống đặt ra một cách thoả đáng. Quan trọng hơn nữa, tự học giúp chúng ta thích ứng với sự vận động và phát triển không ngừng của thế giới. Tuy nhiên, để có thể tự học đạt hiệu quả, đòi hỏi người học phải có sự nổ lực, tích cực và quyết tâm cao trong việc chiếm lĩnh tri thức. Sinh thời, Hồ Chí Minh rất đề cao vấn đề tự học. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người viết: "Trong cách học, phải lấy tự học làm cốt". Cuộc đời Người là tấm gương sáng về quá trình tự học và tự học không ngừng. Năm 1935, dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII, Người ghi vào phiếu lý lịch của mình như sau: Trình độ học vấn: tự học; ngoại ngữ: Pháp, Anh, Nga, Đức, Ý, Trung Quốc. Có ai biết chăng, Hồ Chí Minh học chính thức trên ghế nhà trường chỉ hết lớp Nhì của bậc tiểu học (tương đương lớp 4 hiện nay).

Trong quá trình tự học, nổ lực của người học đóng một vai trò rất lớn. Trung Quốc có một câu danh ngôn rất hay: "Thầy giáo của anh có thể dắt anh đến cửa; đạt được sự học là việc tùy thuộc vào mỗi người". GS. Cao Xuân Hạo trong bài “Bàn về chuyện tự học” cho rằng: “...dù có học trường gì, thầy nào nổi tiếng đến đâu chăng nữa, thì nhân tố quan trọng nhất quyết định kết quả mỹ mãn của quá trình đào tạo vẫn là cái công tự học của học trò. Tự học ở đây chỉ cái phần tích cực chủ động, quyết đoán của người học. Vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của quá trình học tập là vai trò của người học”. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa tự học chỉ là việc của sinh viên, không cần giảng viên hướng dẫn và kiểm soát quá trình này. Theo Holmes và Ramos: “Để giúp người học kiểm soát được việc học của chính mình, rất quan trọng phải giúp họ trở nên có ý thức và xác định được chiến lược mà họ đã từng sử dụng hoặc có thể sẽ sử dụng và chính giảng viên là người thực hiện vai trò này. Họ phải giúp sinh viên ý thức được vai trò và tầm quan trọng của việc tự học và hướng dẫn họ tự học có hiệu quả”. Như vậy, bên cạnh vai trò quyết định của người học trong việc tự học thì người dạy cũng giữ một vai trò không kém phần quan trọng. Họ chính là những đứng ra người tổ chức, hướng dẫn người học chiếm lĩnh tri thức; là cố vấn, trọng tài khoa học cho người học.

2. Thực trạng quá trình tự học ở trường Đại học Tiền Giang

Là một trong những trường ở đồng bằng sông Cửu Long đi đầu trong việc chuyển từ đào tạo theo hệ thống niên chế sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ, những năm qua trường đã chủ động nghiên cứu, tìm hiểu, tham khảo nhiều mô hình đào tạo này. Bước đầu cũng đã triển khai và đi vào vận hành. Tuy nhiên, nhìn chung phương pháp cũng như cách thức tiến hành đào tạo về thực chất vẫn còn mang nặng cốt cách của đào tạo theo hệ thống niên chế, theo lối truyền thụ một chiều, chưa phát huy được vai trò tích cực, tự giác của người học. Người dạy chưa hướng dẫn cho người học cách thức tự học, còn người học chưa biết cách tự học. Sự tận tâm và nhiệt tình của không ít giảng viên vẫn chưa cao. Sinh viên vẫn còn tâm và tư thế trông chờ, ỷ lại vào giảng viên.

Một thực tế không thể không nhìn nhận đó là nhiều giảng viên vẫn chưa thể triển khai được phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ, mặc dù đã được tập huấn. Điều này thể hiện rõ trong việc giảng dạy, tổ chức hướng dẫn cho sinh viên tự học, mà biểu hiện là không ít giảng viên vẫn chưa xem trọng việc hướng dẫn tự học cho sinh viên. Thậm chí, cũng có giảng viên thực hiện qua loa, thiếu kiểm tra, đánh giá, khen thưởng, răn đe và chế tài. Tạo cho sinh viên tâm lý ỷ lại, chỉ thực hiện để đối phó khi có yêu cầu. Riêng đối với việc giảng dạy các môn lý luận chính trị, một thực tế khác không chỉ riêng ở trường đại học Tiền Giang mà nhiều trường, học viện khác trong cả nước khi áp dụng đào tạo theo hệ thống tín chỉ gặp không ít những khó khăn. Mặc dù, đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn lý luận chính trị có cố gắng trong việc giảng dạy theo hệ thống tín chỉ - chú trọng việc tự học của sinh viên, tuy nhiên kết quả vẫn chưa cao. Biểu hiện, nhiều sinh viên không chỉ ở trường đại học Tiền Giang mà nhiều trường khác về điểm các môn này nhìn chung là thấp. Sinh viên vẫn chưa hứng thú với những môn học này.

Nguyên nhân thực trạng quá trình tự học ở trường Đại học Tiền Giang:

Thứ nhất, nhận thức về vấn đề đào tạo theo hệ thống tín chỉ vẫn còn xa lạ, thậm chí mơ hồ, tồn tại ở không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý và cả ở giảng viên trực tiếp giảng dạy. Chính sự mơ hồ, xa lạ đó vô hình chung dẫn đến không ít cán bộ, giảng viên chưa hiểu rõ thực chất của đào tạo theo hệ thống tín chỉ, dẫn đến chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Hay nói cách khác, chưa phát huy được ý thức tự học của người học.

Thứ hai, quá trình chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ của trường chưa lâu, kinh nghiệm triển khai, tổ chức, quản lý cũng còn tồn tại nhiều bất cập. Nhiều khó khăn không thể giải quyết trong một khoảng thời gian nhất định. Với lại, thực tế nhiều trường trong nước hay nhiều trường trên thế giới để có thể đào tạo một cách thật sự theo hệ thống tín chỉ phải có một thời gian dài, làm và đúc rút kinh nghiệm. Chúng ta còn ở trong thời kỳ quá độ, đang từng bước chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ cho nên chưa thể đáp ứng ngay được yêu cầu đề ra.

Thứ ba, bản thân người dạy cũng như người học chưa hiểu, thậm chí chưa theo kịp tiến độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Chính vì vậy, chưa thể phát huy được tính chủ động của người học. Người dạy chưa tổ chức tốt việc hướng dẫn tự học và người học chưa biết cách tự học, tự làm chủ tri thức của bản thân mình. Việc hướng dẫn tự học của người dạy đôi lúc còn hình thức, chưa đi đôi với kiểm tra, đánh giá quá trình tự học của người học. Còn người học do chất lượng đầu vào chưa cao, ý thức tự học còn kém, chưa thấy được vai trò của tự học trong quá trình học tập, thậm chí ít xem trọng tự học, dẫn đến trông chờ, ỷ lại vào người dạy. Đây là một trong những nguyên nhân chính tạo nên bước thụt lùi trong quá trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường.

Thứ tư, bên cạnh những nguyên nhân ở trên còn nhiều nguyên nhân khác như: điều kiện sinh hoạt cũng như chế độ lương bổng của giảng viên còn thấp đã làm giảm đi sự hăng hái, nhiệt huyết của người dạy. Bên cạnh đó, giảng viên chưa có nơi ở đàng hoàng để an tâm công tác, cũng như chưa nhận được sự hỗ trợ kinh phí từ phía nhà trưởng để ổn định cuộc sống. Không chỉ là giảng viên, phần lớn đời sống của sinh viên vẫn chưa được trường quan tâm đúng mức. Bên cạnh đó, nhà trường cũng chưa có ký túc xá để các em cư trú, học tập. Một điều không thể phủ nhận là chất lượng đầu vào của các em còn thấp, ý thức tự học của các em chưa cao, cho nên khi triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ, chú trọng việc tự học thì kết quả không như mong muốn. Một yếu tố không kém phần quan trọng là số lượng sinh viên/lớp còn đông, đặc biệt là đối với các môn chung (trung bình mỗi lớp có ít nhất khoảng 60 sinh viên, lớp nhiều nhất có khi hơn 100 sinh viên) dẫn đến việc hướng dẫn tự học và kiểm tra quá trình tự học của sinh viên gặp rất nhiều khó khăn. Với số lượng đông sinh viên như thế, kiểm tra quá trình tự học của sinh viên cũng chỉ thực hiện được qua một số bài kiểm tra nhỏ hay trả lời một số câu hỏi cho về nhà của giảng viên. Do đó, chưa thể đánh giá hết được quá trình tự học của sinh viên.

Bên cạnh đó, nội dung môn học, đặc biệt đối với các môn lý luận chính trị phải tuân thủ theo quy định của Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Giáo dục và Đào tạo về chương trình giảng dạy. Nội dung còn nặng về lý thuyết, tính trừu tượng cao, phương pháp chủ đạo để giảng dạy các môn này về cơ bản vẫn là thuyết giảng. Mặc dù, có sự hướng dẫn của giảng viên, tuy nhiên do đặc thù môn học là trừu tượng, đôi lúc vượt tầm hiểu biết của các em. Mặt khác, đề cương chi tiết học phần mặc dù có đề cập đến những nội dung tự học của sinh viên, tuy nhiên vẫn còn chung chung. Ngoài ra, bên cạnh vai trò của người thầy trong việc hướng dẫn quá trình tự học của sinh viên, nguồn tài liệu tham khảo cũng đóng một vai trò quan trọng. Mặc dù, thư viện có trang bị đầy đủ hệ thống tài liệu nhưng nhìn chung còn thiếu sách chuyên sâu và sách chuyên ngành dẫn đến nhiều vấn đề liên quan đến môn học sinh viên chưa thể tiếp cận và tự nghiên cứu được. Mặt khác, sinh viên thiếu nơi để học tập, tự học, trao đổi và thảo luận. Điều kiện nhà trọ chưa đảm bảo cùng với việc nhiều sinh viên có hoàn cảnh khó khăn phải đi làm thêm dẫn đến quỹ thời gian tự học của các em chưa nhiều,....

3. Đề xuất một số giải pháp đổi mới quá trình tự học ở trường Đại học Tiền Giang

Đánh giá chất lượng đào tạo theo hệ thống tín chỉ là đánh giá quá trình hướng dẫn tự học của giảng viên và quá trình tự học của sinh viên. Tuy nhiên, để thay đổi nhận thức cũng như hành động của các cấp lãnh đạo, người dạy cũng như người học về vấn đề tự học là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải có sự cố gắng, nổ lực và quyết tâm cao. Chỉ có đổi mới quá trình tự học mới góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Do đó, đây là yêu cầu cần thiết và cấp bách hiện nay. Bên cạnh đó, mục đích của giáo dục ngày nay luôn vận động và đòi hỏi ở cấp độ cao hơn, học không chỉ để nhớ, để biết mà còn để hành động và khẳng định mình. Theo UNESCO: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để làm người và để tự khẳng định mình”. Chính vì vậy, đòi hỏi người học phải có tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo. Đổi mới quá trình tự học mới có thể phát huy được các năng lực đó ở người học. Để đổi mới quá trình tự học ở trường Đại học Tiền Giang theo tôi cần phải:

a/ Đối với lãnh đạo, quản lý của nhà trường

          Cần nhận thức lại và nhận thức đúng về đào tạo theo hệ thống tín chỉ, phải xem tự học là cốt lõi quyết định hình thức đào tạo này. Chỉ có sự thống nhất về nhận thức, đặc biệt là ở cấp lãnh đạo, quản lý mới thống nhất về hành động và hành động mới nhanh chóng và có hiệu quả. Bên cạnh đó, cần tổng kết và rút kinh nghiệm thực tiễn quá trình chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ, làm tiền đề đổi mới mạnh mẽ hơn trong thời gian tới. Mặt khác, cần tăng cường giao lưu, liên kết, học hỏi thêm kinh nghiệm với các trường có quá trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ lâu hơn như các trường ở Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh hay trường Đại học Cần Thơ,... Đồng thời, mời các chuyên gia có kinh nghiệm, đặc biệt là kinh nghiệm thực tiễn trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ, nhằm giúp cán bộ, giảng viên của trường hiểu rõ và cùng với nhà trường thực hiện đào tạo một cách hiệu quả hơn.

Bên cạnh đó, chương trình đào tạo cũng cần thay đổi theo hướng gọn nhẹ, giảm lý thuyết, phân bố thời gian hợp lý và gắn với thực tiễn cuộc sống. Mặt khác, cần thay đổi quan niệm xem đây là những môn “bắt buộc” bằng việc xem đây là những môn “tiền đề”, “cơ sở” và “cần thiết” đối với người học. Nhu cầu, hứng thú mới chính là động lực thôi thúc người học tiếp thu và học tốt. Thực tế và quan niệm về chương trình môn học ngay từ ban đầu đã tạo phản ứng trái ngược với nhu cầu học tập. Bên cạnh đó, nội dung của môn học hàn lâm, trừu tượng làm cho người học khó tiếp thu, đặc biệt là đối với sinh viên năm thứ nhất mới bước chân vào giảng đường đại học, chưa thay đổi kịp thời cũng như tìm ra phương pháp học tập thích hợp. Tự học đối với những nội dung quá khó, trừu tượng không kích thích được hứng thú người học, thậm chí tạo tâm lý ngược lại, đặt người học vào thế bị áp đặt, bắt buộc.

Tự học là quá trình đòi hỏi sự độc lập, tự chủ, và sáng tạo. Tuy nhiên, chính “khung chương trình” làm cho người dạy kể cả người học không thể thoát ra khỏi “cái khung”, “đường ray xe lửa” có sẵn, hay nói cách khác không thể suy nghĩ độc lập, không có quyền tự chủ, không thể sáng tạo, càng không thể tìm ra được cái mới tốt hơn. Hay nói cách khác, không thể đổi mới mặc dù nhu cầu rất bức thiết. Dạy học theo chương trình khung hiện nay giống như “người ta đổ nguyên liệu vào từng cái khuôn với nhiều kiểu khác nhau”. Chính vì vậy, để đổi mới quá trình tự học ngoài thay đổi quan niệm xem những môn học này là “tiền đề”, “cơ sở”, “cần thiết” thì phải thay đổi “khung chương trình” bằng “định hướng chương trình” (sườn, xương sống). Từ “định hướng chương trình” đó người dạy cũng như người học mới tự tạo cho mình nhiều sản phẩm đa dạng, phong phú và đầy màu sắc giống như “một thân cây được mọc thêm nhánh, cành, hoa”. Từ cây đó mới ra được nhiều quả ngọt. Nhánh, cành, hoa, quả đó là quá trình tự học, tự sáng tạo của người dạy cũng như người học. Giáo dục cũng giống như việc trồng một cái cây vậy!

Ngoài ra, cần tìm nguồn kinh phí và tăng phụ cấp cho người dạy, đi đôi với cải thiện nơi ở giảng viên, đặc biệt đối với giảng viên trẻ để họ yên tâm công tác. Đây là vấn đề không mới nhưng lại là cốt lõi để đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo. Bởi, điều kiện sống và sinh hoạt quyết định chất lượng giảng dạy. Người dạy chỉ có thể yên tâm và dồn hết tâm huyết của mình vào việc giảng dạy khi và chỉ khi các điều kiện sống và sinh hoạt của họ được đảm bảo. Sự sống còn của trường không chỉ có ở sinh viên mà còn ở cả giảng viên. Bên cạnh việc tìm nguồn, kiếm việc làm và tăng phụ cấp cho người dạy thì việc thăm hỏi, động viên cũng hết sức cần thiết. Quan tâm thể hiện tìm cảm, tinh thần trách nhiệm và đạo lý “uống nước nhớ nguồn” đối với sự cống hiến thầm lặng của nhiều thế hệ cán bộ, giảng viên đối với nhà trường.

Mặt khác, quá trình tự học của sinh viên sẽ không thành công nếu như nhà trường chưa quan tâm đúng mức. Nói như Isaac Asimov – giáo sư hoá sinh, nhà văn nổi tiếng người Mỹ: “Chỉ có thể bằng con đường tự học sinh viên mới có thể học hỏi được điều gì đó. Nhiệm vụ duy nhất của nhà trường là tạo thuận lợi cho quá trình tự học. Nếu như không làm được điều này, Nhà trường sẽ đánh mất ý nghĩa tồn tại của mình”. Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự học của sinh viên ở đây không chỉ dừng lại ở những việc nêu trên, mà cùng với đó là cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình tự học của sinh viên phải được đảm bảo. Củng cố, nâng cấp và mở rộng hệ thống phòng học, phòng thí nghiệm – thực hành, chính là điều kiện thiết yếu để đổi mới quá trình học và tự học của sinh viên một cách có hiệu quả.

Ngoài ra, thư viện với việc trang bị đầy đủ các loại sách từ đại cương đến chuyên ngành cùng với nơi để tự học là hai yếu tố rất cần thiết để sinh viên có thể tự học. Thực tế hai điều này nhà trường vẫn chưa đáp ứng được. Khách quan đánh giá thì giữa thư viện và các khoa chưa có sự liên hệ chặt chẽ từ việc tìm hiểu đầu sách của các môn học đến việc bổ sung thêm lượng sách cho thư viện hàng năm. Để khắc phục hạn chế này, đối với các khoa, vào đầu các học kỳ hay năm học, các giảng viên giảng dạy phải cùng với khoa làm việc với thư viện để nắm được số lượng và yêu cầu về đầu sách giảng dạy phục vụ cho môn học. Chỉ trên cơ sở đó, các khoa và thư viện mới biết cần phải bổ sung thêm những loại sách chuyên ngành hay tài liệu tham khảo nào cần thiết phục vụ cho giảng dạy. Việc nắm thông tin tài liệu về môn học cũng giúp ích cho giảng viên trong việc tổ chức, hướng dẫn sinh viên tự học thông qua việc giới thiệu tài liệu phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu của sinh viên. Còn về phía thư viện, bên cạnh việc liên kết chặt chẽ với các khoa trong việc bổ sung thêm nguồn học liệu, thì cần phải tạo mối quan hệ với thư viện ở các trường khác, để thông qua các nơi này giới thiệu thêm các học liệu quý, các đầu sách có giá trị nhằm phục vụ cho việc tự học của sinh viên. Không dừng lại ở đó, thư viện cần liên kết với nhiều nhà sách tổ chức nhiều đợt triển lãm và giới thiệu sách đến đông đảo sinh viên nhằm kích thích hứng thú đọc sách của các em. Tuy nhiên, trong quá trình triển lãm, thư viện cũng cần phải định hướng những loại sách bổ ích cho việc học tập của các em.

Không chỉ dừng lại ở việc trang bị và giới thiệu tài liệu để sinh viên tự học, nghiên cứu, nhà trường cần tăng cường phủ sóng wifi rộng khắp và đảm bảo tốc độ cũng như chất lượng của hệ thống mạng để sinh viên có thể truy cập tìm tài liệu học tập. Mặt khác, nhà trường, các khoa cần tổ chức các diễn đàn để sinh viên có điều kiện trao đổi phương pháp, kỹ năng tự học. Bên cạnh đó, để có thể tự học, nhà trường cần bố trí các nơi để các em học tập. Việc bố trí nơi tự học ở trường giúp sinh viên có thể tự học với nhau, tăng cường khả năng làm việc nhóm, bởi tự học không đồng nghĩa với việc học một mình. Mặt khác, qua đó các khoa có thể nắm bắt, quản lý được quá trình tự học của sinh viên do khoa mình đảm trách; sinh viên có thể liên hệ trao đổi với giảng viên về những vấn đề còn thắc mắc. Đồng thời, với việc bố trí nơi học tập cho sinh viên, nhà trường cần bố trí các phòng làm việc ở các khoa để sinh viên có thể trao đổi với giảng viên. Ngoài các điều kiện về cơ sở vật chất nêu trên, khi xem xét các điều kiện phục vụ hoạt động tự học, các lãnh đạo, quản lý của trường cũng cần quan tâm tới các điều kiện phục vụ, thái độ phục vụ sinh viên của các bộ phận chuyên trách nhằm tạo cho sinh viên một môi trường học tập và tự học tốt nhất.

b/ Về phía giảng viên

Quá trình tự học không chỉ dừng lại ở việc sinh viên tự thân học tập mà giảng viên cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức, hướng dẫn và kích thích ý thức tự học của các em. Bên cạnh đó, không phải giảng viên chỉ có nhiệm vụ quan trọng trong những giờ lên lớp mà còn những giờ tự học, tự nghiên cứu của sinh viên thì không cần tổ chức, hướng dẫn. Việc tự học của sinh viên chỉ đạt kết quả tốt khi được hướng dẫn và có sự kiểm tra, đánh giá của giảng viên. Một giảng viên giỏi khi và chỉ khi dạy cho sinh viên được cách suy nghĩ và hướng dẫn các em đi tìm chân lý. Hay nói cách khác, giảng viên phải dạy cho các em phương pháp để các em học tập và tự học. “Chúng ta không thể dạy bảo cho ai bất cứ điều gì, chúng ta chỉ có thể giúp họ phát hiện ra những gì còn tiềm ẩn trong họ(Galileo). Đề cập đến vai trò quan trọng của giảng viên đối với hoạt động học tập và tự học của sinh viên, Margaret Mead – nhà nhân học văn hoá Mỹ cho rằng: “Không nên dạy cho trẻ em những gì chúng phải suy nghĩ, mà dạy cho chúng cách suy nghĩ”. Còn A.Đixtecvec – nhà giáo dục người Đức thì khẳng định: “Người giáo viên bình thường mang chân lí đến cho trò, người giáo viên giỏi biết dạy học trò đi tìm chân lý”. Thực tế vai trò này của người giảng viên ở trường vẫn chưa phát huy đúng mức, thậm chí nhiều giảng viên còn tâm lý “khoán trắng” việc tự học cho sinh viên mà không có sự hướng dẫn, đó là chưa đề cập đến việc kiểm tra, đánh giá quá trình tự học của các em. Sinh viên chưa biết cách tự học, lại thiếu sự hướng dẫn, dẫn đến các em chưa quan tâm việc tự học một cách đúng mức. Chính vì vậy, trong thời gian tới để khắc phục có hiệu quả việc này cũng như phát huy vai trò người cố vấn, trọng tài cho sinh viên trong quá trình tự học thì giảng viên cần:

Giúp sinh viên nắm và triển khai học tập cũng như tự học tốt từ đề cương môn học. Để làm được điều này, ngay từ khi bắt đầu mỗi môn học, giảng viên cần giới thiệu và cung cấp cho sinh viên đề cương chi tiết của môn học. Trong buổi đầu tiên ấy, giảng viên cần nói rõ từ mục đích, yêu cầu, quy định về chương trình môn học đến việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên và những tài liệu tham khảo cần thiết để các em nghiên cứu. Từ đó, các em mới có thể chủ động lên kế hoạch tự học, tự nghiên cứu nhằm thực hiện các mục tiêu của môn học. Bên cạnh đó, giảng viên cần phải gương mẫu tuân thủ theo đúng kế hoạch của đề cương và yêu cầu sinh viên cũng nghiêm túc thực hiện theo đề cương này. Thực tế, sinh viên chưa chú ý lắng nghe và giảng viên nhiều khi cũng chưa xem trọng việc tuân thủ yêu cầu cần thiết này. Chính vì vậy, để đổi mới việc học tập, cũng như tự học của sinh viên trong thời gian tới phải lưu ý thực hiện tốt yêu cầu này, tránh sự qua loa, chiếu lệ ở cả hai phía.

Đề cương chi tiết học phần rất quan trọng là nội dung, định hướng học tập, trong đó thể hiện rõ nhiệm vụ của giảng viên và nhiệm vụ của sinh viên trên lớp cũng như tự học ở nhà. Mặc dù, có sự điều chỉnh nhưng nhìn chung đề cương chi tiết các học phần vẫn chưa đáp ứng, đặc biệt là chưa thể hiện rõ yêu cầu tự học đối với sinh viên. Từ đó, dẫn đến sinh viên chưa biết phải tự học những nội dung gì và tự học như thế nào. Chính đề cương chi tiết học phần còn chung chung cộng với sự thiếu kiểm tra, giám sát của giảng viên là nguyên nhân ban đầu làm cho việc tự học của sinh viên kém hiệu quả. Để khắc phục hạn chế này, cần có đề cương chi tiết cụ thể, rõ ràng cùng với đó là sự kiểm tra, đánh giá nghiêm ngặt của giảng viên đối với sinh viên, đặc biệt là vấn đề tự học. Việc kiểm tra, đánh giá việc tự học của sinh viên có thể bằng nhiều phương pháp và cách thức khác nhau, kết hợp nhiều cách làm như: có thể giao sinh viên làm bài tập, tiểu luận, thảo luận nhóm,... hay có thể kiểm tra tự luận ngắn, trắc nghiệm cả lớp hoặc một vài sinh viên, có thể kiểm tra đầu giờ, giữa giờ hay cuối giờ những nội dung của bài học cũ có liên quan hay những nội dung trọng tâm của bài học mới. Việc kiểm tra này kết hợp với cho điểm, khen khưởng và xử lý đối với những trường hợp thực hiện và chưa thực hiện tốt việc tự học. Thực tế, nhiều giảng viên có tiến hành kiểm tra nhưng thiếu sự nhận xét, đánh giá và răn đe làm sinh viên buông lỏng việc tự học. Chỉ kiểm tra nội dung học tập thì chưa đủ, giảng viên cần phải kiểm tra kế hoạch học tập môn học của các em, như thế mới đánh giá chính xác quá trình tự học và thấy được sự nổ lực ở các em. Cùng với đó là những lời động viên khen thưởng và những hình phạt mang tính răn đe sẽ giúp các em tự học ngày càng hiệu quả hơn. Kế hoạch học tập và tự học rất quan trọng, là kim chỉ nam, định hướng và quyết định kết quả học tập của các em đối với môn học mà các em. Việc xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện quá trình học tập là một vấn đề khó khăn, đặc biệt đối với từng môn học thì có đòi hỏi về mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau. Chính vì vậy, giảng viên cần tăng cường hướng dẫn, giúp đỡ sinh viên xây dựng kế hoạch tự học của môn học một cách khoa học, hợp lý, phù hợp với điều kiện của bản thân nhằm đạt mục đích và hiệu quả tự học một cách cao nhất.

Một yếu tố không kém phần quan trọng là sự kích thích và không ngừng kích thích hứng thú học tập của các em. Việc này có thể thực hiện bằng cách giảng viên đưa ra nhiều tình huống để các em suy nghĩ, giải quyết và trả lời, kèm theo đó là sự khích lệ và cho điểm khen thưởng đối với các em. Bên cạnh đó, trong quá trình giảng dạy, giảng viên cần tìm ra những “chỗ hay” và “điểm nhấn” của bài học để sinh viên nhớ lâu và kích thích hứng thú học tập của các em. “Điểm hay” làm cho người tiếp thu thấy việc học tập có ý nghĩa và “điểm nhấn” giống như những cao trào của một bản nhạc giúp người nghe khắt sâu hơn. Ngoài ra, việc truyền đạt kinh nghiệm của bản thân giảng viên đối với việc học tập tốt môn học cũng như kinh nghiệm tự học có hiệu quả cũng góp phần giúp sinh viên đạt kết quả học tập và tự học tốt hơn.

c/ Về phía sinh viên    

A.Einstein từng khẳng định rằng: “Kiến thức chỉ có được qua tư duy của con người”. Thật vậy, bên cạnh sự hướng dẫn của giảng viên, sự quản lý của nhà trường, thì hoạt động tự học chỉ có thể đem lại hiệu quả khi có sự nổ lực của bản thân. “Không bỏ ra một công phu nhất định thì không có khả năng khám phá sự thật và ai sợ mất công sức thì không có khả năng lĩnh hội được chân lý(Khuyết danh). Ai muốn trở thành thiên tài được nhiều người ngưỡng mộ thì phải bỏ ra công sức, tự lực nhiều hơn. T.Eđisơn bằng trải nghiệm của mình đã khẳng định rằng: “Thiên tài gồm một phần trăm cảm hứng và chín mươi phần trăm mồ hôi”. Khi chuyển sang phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ, sinh viên phải thay đổi nhận thức, xoá bỏ sức ỳ để có những phương pháp học tập tích cực, thái độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhằm thích ứng với yêu cầu học tập mới. Để làm đươc điều đó, sinh viên cần phải:

Chuẩn bị tốt về động cơ, tinh thần trách nhiệm, thái độ học tập, tự lực cánh sinh để “tự chủ - tự chịu trách nhiệm” trong học tập một cách chủ động và hiệu quả. Như vậy, việc chuẩn bị tâm thế, tư thế để học tập một môn học nào đó đóng một vai trò quan trọng, thể hiện sự chủ động của sinh viên trong việc khám phá và làm chủ tri thức. Tuy nhiên, thực tế sinh viên chưa chủ động trong việc này, đặc biệt đối với các môn khoa học Mác – Lênin, thay vì có một tâm, tư thế chuẩn bị tốt ngay từ đầu, nhiều sinh viên bị tiêm nhiễm bởi quan điểm của những người học trước khi cho rằng đây là môn học khó. Bên cạnh đó, khi nghe nhắc đến tên các học phần lý luận chính trị, đặc biệt là hai từ “chính trị” thì ai cũng đều sợ, huống chi là sinh viên, thậm chí ngay cả giảng viên, lãnh đạo quản lý khi có lịch học chính trị cũng đều có tâm lý không muốn học. Điều này cũng do nhiều nguyên nhân, nhưng có lẽ nguyên nhân quan trọng nhất khiến người học không thích nghe bởi nội dung trình bày của người báo cáo còn nặng về tuyên truyền, chưa có điểm nhấn, thậm chí người báo cáo chưa có phương pháp báo cáo để thu hút người nghe. Khán giả chỉ nghe những điều họ thấy cần thiết và mong muốn được biết. Xin ý kiến của người nghe về nhu cầu, nội dung muốn nghe trước khi mời báo cáo viên trình bày là một việc hết sức cần thiết quyết định hiệu quả của việc học tập, sinh hoạt chính trị. Mặt khác, xuất phát từ chỗ chưa hiểu đúng nội hàm hai từ “chính trị” tạo suy nghĩ lệch lạc và đánh mất hứng thú học tập cũng như tự học của sinh viên. Chỉ có hiểu đúng và xoá bỏ “chướng ngại” về nhận thức mới tạo cho sinh viên tâm, tư thế học tập thật tốt. Nhu cầu (ý nghĩa bổ ích của việc học tập môn học), kết hợp với tâm, tư thế thoải mái kích thích người học sẵn sàng chiếm lĩnh tri thức.

Xác định và kiên trì thực hiện nhằm đạt được mục tiêu, kể cả mục tiêu môn học và mục tiêu từng bài là yêu cầu quan trọng thứ hai đối với việc học tập và tự học. Chỉ trên cơ sở xác định mục tiêu rõ ràng, cụ thể, kể cả lợi ích và lý do cũng như thời hạn phải thực hiện mục tiêu đó, người học mới xây dựng kế hoạch học tập và tự học một cách hiệu quả. Mục tiêu trước hết là động lực, dẫn đường cho quyết định và hành động giúp các em thành công. Không chỉ vậy, mục tiêu còn thúc đẩy, tiếp thêm năng lượng và sức mạnh cho các em. Không có mục tiêu, các em cảm thấy lười biếng, mệt mõi. Thực tế, không có sinh viên lười, chỉ có sinh viên không có mục tiêu rõ ràng. Mặt khác, mục tiêu còn tạo điều kiện giải phóng tiềm năng của bản thân. Nhiều sinh viên nói rằng họ vẫn không cảm thấy có động lực, thậm chí sau khi các em đã xác định mục tiêu. Các em vẫn cảm thấy không muốn hành động. Lý do vì những mục tiêu mà các em đề ra không đủ hấp dẫn với bản thân các em. Muốn có quyết tâm, động lực để hành động, các em phải xác định những mục tiêu to lớn. Đó là những mục tiêu vượt xa ngoài khả năng hiện tại của bản thân. Điều quan trọng nhất là ý nghĩ đạt được những mục tiêu ấy thật sự làm các em cảm thấy hết sức hạnh phúc, phấn khởi. Nếu dừng lại ở đó thì việc học tập cũng như tự học của các em chưa thể thành công được, tiếp thêm cảm xúc cho mục tiêu là việc hết sức cần thiết. Hầu hết những hành động trong ngày của các em không phải do lý trí mà do cảm xúc thúc đẩy. Bởi thế, đây là một trong những bước quan trọng nhất. Hãy nhắm mắt lại tưởng tượng các em đạt được mục tiêu đề ra và tận hưởng cảm giác vui sướng, thoả mãn, cũng như những lợi ích do việc đạt được mục tiêu mang lại.

Nếu chỉ dừng lại ở việc xác định mục tiêu và tiếp thêm cảm xúc vào mục tiêu thì chưa đủ, quan trọng là các em phải hành động và lấy đà bằng việc hành động ngay tức khắc. Nó có sức mạnh phi thường giúp các em tiếp tục hành động tiến dần về phía trước. Tuy nhiên, trong thực tế chúng ta lại vấp phải một trở ngại lớn, đó chính là sự kiên trì trong quá trình thực hiện. Sự “lười biếng” hay tâm thế “nước đến chân mới nhảy” làm chậm chạp và phá vỡ sự kiên trì đó. Chính vì vậy, chỉ có kiên trì thực hiện mục tiêu, kế hoạch và vượt qua sự lười biếng thì việc học và tự học của các em mới có thể thành công. Trong đó, phải khẳng định rằng sự kiên trì là vô giá. Sở dĩ A.Einstein và T.Edison thành công chính là ở sự kiên trì của họ. A.Einstein từng khẳng định rằng: “Không phải là tôi quá thông minh, chỉ là tôi nghiên cứu vấn đề lâu hơn thôi”. Hay chúng ta thấy, nhờ kiên trì mà rùa đã thắng được thỏ. Giá trị của con tem chứa đựng trong khả năng dính với thứ gì đó cho đến khi nó đến được nơi cần đến. Bên cạnh đó, phải ra sức vượt qua sự lười biếng. Muốn vậy các em hãy viết ra những hậu quả mà các em chậm thực hiện và những điều tốt đẹp mà các em thực hiện ngay. Đồng thời, phải tự cam kết với bản thân, bởi cách tốt nhất để thuyết phục bản thân hành động là các em phải tự cam kết là mình sẽ hành động để đạt mục tiêu. Việc tự cam kết với bản thân có sức mạnh phi thường nhưng chưa đủ vì đa số mọi người đều tìm được lời biện hộ cho việc không thực hiện cam kết. Bởi thế, các em cần phải quảng bá cam kết của mình để người khác theo dõi. Cuối cùng, để vượt qua sự lười biếng hãy tìm cách tự thưởng cho bản thân khi hoàn thành từng chặng đường nhỏ đi tới mục tiêu. Tương tự các em phải trừng phạt mình bất cứ khi nào bản thân lười biếng. Đồng thời, để có thể học tập và tự học thành công, sinh viên phải tập trung vào việc học hiện tại. “Bất cứ người đàn ông nào có thể lái xe an toàn khi đang hôn một cô gái đơn giản là vì anh ta đã không hôn nhiệt tình” (A.Einstein). Các em nhớ rằng không ai có thể cưỡi một lúc hai con ngựa. Chúng ta có thể làm bất cứ điều gì nhưng không thể nào làm hết mọi việc. Do đó, chỉ có cách là học cách tập trung vào việc học hiện tại, chuyên tâm với những gì các em đang làm. Năng lượng của sự tập trung là sức mạnh, là sự khác biệt giữa thành công và thất bại.

Một yếu tố không kém phần quan trọng quyết định thành công trong việc tự học chính là niềm tin vào sự thành công. Lý do thất bại từ trước đến nay bắt đầu từ cách suy nghĩ của các em. Đáng tiếc là chỉ có 5% sinh viên có cách suy nghĩ của người thành công và 95% số sinh viên còn lại luôn có suy nghĩ của kẻ thất bại. Niềm tin của con người có một sức mạnh cực kỳ to lớn, bởi vì niềm tin giống như trung tâm chỉ huy trong não bộ. Niềm tin ảnh hưởng đến mục tiêu mà các em đặt ra. Quyết định những hành động mà các em muốn thực hiện. Tuy nhiên, nếu chỉ tin không thì chưa đủ, mà cần phải biến niềm tin thành hiện thực. Khi các em tin vào một điều gì đó, não bộ của các em sẽ phải cố gắng tìm giải pháp để giúp các em biến điều đó thành sự thật. Não bộ của các em sẽ phải tận dụng tất cả các khả năng tiềm ẩn của nó, từ đó mở ra con đường đi đến thành công. Tiến sĩ Georgi Lozanav, người khám phá ra phương pháp học tăng tốc đã khẳng định rằng: chúng ta khi sinh ra đều là những thiên tài, nhưng trong quá trình lớn lên, chúng ta làm mất khả năng thiên phú của mình từ việc lắng nghe ý kiến tiêu cực của người khác. Qua năm tháng, những niềm tin tiêu cực ấy dần dần biến thành “sự thật” và chúng ta không bao giờ nghi ngờ những “sự thật” đó. Chúng ta tự mình dán lên cho mình đầy những “nhãn dán” bên cạnh những nhãn dán do người khác dán lên chúng ta. Dần dần, chúng ta coi những nhãn dán này như một thực tế một sự thật hiển nhiên trong cuộc sống. Do đó, chỉ có thay đổi niềm tin mới tìm thấy đích đến của việc tự học thành công.

Những điều đề cập ở trên, tuy ai trong chúng ta cũng đều biết, nhưng để thực hiện được thì lại rất khó, thậm chí ngay cả giảng viên và sinh viên đều xem nhẹ những việc này. Chúng ta vội vàng trong khi “quên” đi nền tảng này. Ngoài những vấn đề trên, để việc tự học có hiệu quả, sinh viên phải đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu trước giờ lên lớp như đọc tài liệu, làm các bài tập, bài kiểm tra, thảo luận nhóm theo yêu cầu của giảng viên. Trong quá trình tự học, sinh viên cần suy nghĩ, sáng tạo và mạnh dạn đưa ra những ý kiến nhận xét, thắc mắc của mình mà không quá phụ thuộc vào tài liệu và những bài giảng của giảng viên. Ngoài ra, tăng cường hoạt động làm việc theo nhóm, trao đổi với bạn bè theo chủ đề. Sau giờ lên lớp cần ôn tập kiến thức đã học và vận dụng vào thực tế. Bên cạnh đó, đảm bảo khoảng thời gian thư giản cần thiết để giữ tinh thần thoải mái cũng là một cách quan trọng để nâng cao hiệu quả học tập và tự học sau mỗi giờ học.

C - KẾT LUẬN

Tóm lại, tự học đóng một vai trò rất quan trọng quyết định chất lượng đào tạo. Tự học giống như việc bắc một “chiếc cầu” sang bên kia sông, đòi hỏi sự kiên trì và nổ lực cao từ nhiều phía, trong đó sự tự làm chủ và chiếm lĩnh tri thức của sinh viên đóng vai trò quyết định. Chỉ có đổi mới hiện tại mới có thể làm chủ tương lai./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Phạm Việt Hà, Khoa Lý luận Chính trị & Khoa học cơ bản, Tự học – một phương pháp học tập cơ bản của sinh viên, [http://huc.edu.vn/chi-tiet/2537/Tu-hoc---mot-phuong-phap-hoc-tap-co-ban-cua-sinh-vien.html].

2.Dương Thị Thanh Huyền, Bộ môn khoa học xã hội và nhân văn, Quá trình tự học và phương pháp dạy tự học cho sinh viên, [http://ntu.edu.vn/Portals/96/Bai%20viet%20cua%20CBGD/Khoa%20Khoa%20hoc%20chinh%20tri/Duong%20thi%20thanh%20huyen.doc].

3.Adam Khoo, Tôi tài giỏi, bạn cũng thế, Nxb. Phụ nữ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HƯỚNG DẪN SINH VIÊN TỰ HỌC TRONG HỌC CHẾ TÍN CHỈ VÀ VIỆC VẬN DỤNG TRONG GIẢNG DẠY CÁC HỌC PHẦN

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC TIỀN GIANG

 

 ThS Lê Minh Tấn

(Khoa Lý luận chính trị)

 

Hiện nay Trường Đại học Tiền Giang đã chuyển sang học chế tín chỉ, so với giảng dạy niên chế, học chế tín chỉ có một số khác biệt. Trong học chế tín chỉ, đề cao tính chủ động của người học và đòi hỏi họ phải hết sức chủ động trong quá trình học tập để tiếp thu tri thức, tích luỹ học phần. Đối với người dạy, cũng phải nắm được các hình thức giảng dạy mang tính đặc trưng, để chuẩn bị nội dung cho các buổi lên lớp, từ tài liệu tham khảo đến chuẩn bị nội dung bài giảng, phương pháp sử dụng và hướng dẫn sinh viên (SV) tự học, tự nghiên cứu. Sự chuẩn bị kỹ của giảng viên (GV) là yếu tố quyết định đến sự thành công của loại hình  dạy học này. Tiết học không thể nói là thành công, nếu người thầy không làm tốt khâu hướng dẫn SV chuẩn bị bài và kiểm tra sự chuẩn bị của họ.

1. Một số đặc điểm trong học chế tín chỉ

Trong học chế tín chỉ, tính chủ động của SV được đề cao, họ phải chủ động trong đăng ký học phần, lựa chọn giờ, buổi học cho phù hợp, phải hết sức năng động trong tiếp nhận tri thức. Sinh viên phải tích cực trong tra cứu, đọc tài liệu để trang bị kiến thức. Trong quá trình học tập, SV có quyền chủ động về thời gian lên lớp, lựa chọn giảng viên và có thể kéo dài hoặc rút ngắn thời gian đào tạo tại trường theo quy định. Trong học chế tín chỉ, số giờ tự học, tự nghiên cứu nhiều, đòi hỏi SV phải nỗ lực cao. Từ những đặc điểm này, đòi hỏi SV phải biết thu xếp thời gian, phải có cách làm việc khoa học và phải luôn cố gắng cao trong suốt thời gian học tập.

Còn đối với giảng viên, việc giảng dạy theo học chế tín chỉ cũng có nhiều điểm khác biệt so với giảng dạy niên chế. Sự khác biệt lớn ở chỗ, số giờ lý thuyết giảm, số giờ cho SV tự nghiên cứu, tự học và thảo luận tăng; trong tiết dạy không hoàn toàn là thuyết giảng, người thầy độc diễn từ đầu đến cuối, mà có sự trao đổi, hướng dẫn SV tự học, thảo luận để SV đóng vai trò chủ thể trong tiếp nhận kiến thức mới.

Khi giảng dạy theo tín chỉ, người GV phải nắm vững đặc điểm của loại hình dạy học này để có “ứng xử” phù hợp. Để việc học tập của SV đạt được kết quả như mong muốn và phát huy được tính tích cực của họ, người GV phải chuẩn bị kỹ nhiều mặt, trong đó hết sức chú ý khâu hướng dẫn SV tự học tại lớp, hướng dẫn đọc tài liệu, chuẩn bị bài ở nhà và kiểm tra sự chuẩn bị của họ theo định hướng của GV. Việc giao bài, đề tài và thường xuyên giám sát của GV, là động lực để SV tự giác học tập. Đây là điều mỗi GV cần hết sức lưu ý, vì không phải học phần nào, SV nào cũng tự giác học tập, nhất là các học phần Lý luận chính trị, nếu GV chỉ nhắc nhở chung chung mà không có biện pháp, chế tài đủ mạnh thì SV rất dễ bỏ qua, không chịu học và kết quả là kiến thức bị hụt hẫng.

Ở đây tôi muốn nói, người GV phải có trách nhiệm cao đối với người học, phải có những biện pháp tích cực và phù hợp, hết sức tránh sự hời hợt, thiếu trách nhiệm trong công tác giảng dạy của mình.

2. Hướng dẫn tự học và kiểm tra tự học của sinh viên

Việc hướng dẫn tự học và kiểm tra sự chuẩn bị của SV nhiều người cho là “chuyện biết rồi nói mãi”. Nếu một ai nghĩ vậy thì hỏi rằng, mình đã hướng dẫn SV tự học đúng nghĩa của nó chưa, mình có thường xuyên làm việc này không, hay chỉ là sự qua loa làm cho có làm, lúc làm lúc không và có biết lời dặn dò của mình được người học thực hiện tới đâu? Đây là vấn đề có tính mấu chốt trong nâng cao chất lượng đào tạo nói chung và các học phần Lý luận Chính trị nói riêng. Chỉ những ai tận tâm với nghề, hết lòng vì sự tiến bộ của SV, thì mới chú ý và làm tốt khâu tưởng như đơn giản này.

Các học phần Lý luận Chính trị mang tính trừu tượng cao, từ quy luật này, nguyên lý kia đến chủ trương, chính sách của Đảng... nghe ra rất nguyên tắc và khô khan. Có thể nói, SV rất sợ học các môn này, các em phần đông suy nghĩ, học để lấy điểm, học để tích luỹ đủ học phần, chứ ít em suy nghĩ học để nắm bắt quy luật, học để biết cách vận dụng lý luận vào thực tiễn, nhằm giải quyết những vấn đề của cuộc sống đặt ra theo chuẩn mực xã hội và vận dụng đúng quy luật. Từ những suy nghĩ lệch lạc trên, nên việc học của SV mang nặng tính đối phó, sự liên hệ, vận dụng lý luận vào thực tiễn ít được các em quan tâm. Nếu vậy, thì tác dụng của các học phần Lý luận Chính trị sẽ mất ý nghĩa giáo dục của nó.

Xuất phát từ thực tiễn học tập của SV đối với các học phần Lý luận Chính trị trong thời gian qua, đáng để cho đội ngũ GV chúng ta suy ngẫm và tìm cách tiếp cận, nhằm giúp các em có phương pháp học tập tích cực. Điều đó đòi hỏi người GV phải sử dụng tốt các phương pháp hiện có và tìm tòi, sáng tạo các biện pháp mới tích cực, để việc dạy đạt mục tiêu đề ra và việc học trở lên có ý nghĩa thực tiễn.

Việc hướng dẫn SV tự học ở lớp và ở nhà, cũng như việc kiểm tra sự chuẩn bị của các em, là một biện pháp tích cực nhằm khắc phục sự thụ động và suy nghĩ lệch lạc của SV trong học các môn Lý luận Chính trị. Biện pháp này áp dụng được ở tất cả các học phần, từ Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 1, 2 đến Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vấn đề là lựa chọn nội dung nào để giảng trên lớp, nội dung nào hướng dẫn học tại lớp, học tập nghiên cứu tại nhà. Việc này đòi hỏi GV phải có sự chuẩn bị kỹ trước khi lên lớp.

Tôi vận dụng biện pháp trên vào thực tế giảng dạy bộ môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong những năm qua, tôi đã từng bước thực hiện như sau: Ngay từ buổi đầu lên lớp ở các lớp học phần, tôi giới thiệu cho SV Đề cương chi tiết học phần môn học và yêu cầu sinh viên chép để thực hiện trong quá trình học, tiếp đó giới thiệu các tài liệu học tập chính, tài liệu tham khảo, cho chép file tài liệu tham khảo các chương (đã chuẩn bị trước). Tôi yêu cầu sinh viên phải có giáo trình, phải đọc tài liệu trước tại nhà và chuẩn bị bài theo từng chương.

Khi học mỗi chương, đề cương có quy định nội dung GV giảng trên lớp, có nội dung yêu cầu sinh viên tự đọc, tự nghiên cứu ngay tại lớp, có nội dung giao về chuẩn bị ở nhà.

Khi đến mỗi phần SV tự học, tôi nêu một số nội dung chính cần đạt được và yêu cầu sinh đọc hoặc thảo luận, trao đổi trong thời gian khoảng 5 phút, hết thời gian tôi cầu SV trình bày nội dung vừa đọc, những nội dung SV trình bày chưa rõ, tôi yêu cầu các SV khác trình bày tiếp hoặc nhận xét đánh giá ý kiến của bạn.

Ví dụ cụ thể, ở Chương 1, trong mục I “Hoàn cảnh quốc tế và trong nước đầu thế kỷ XX”. Trong mục chia làm 2 mục nhỏ là,1. “Hoàn cảnh quốc tế”, 2. “Tình hình trong nước”. Ở mục 1. Hoàn cảnh quốc tế, tôi yêu cầu sinh viên cho biết mục này có mấy nội dung chính? Nội dung của các phần này là gì? Và yêu cầu SV đọc rồi trình bày. Cứ như vậy, làm tiếp ở các mục, các chương khác. Việc làm này có tác dụng giúp SV chủ động trong tiếp nhận tri thức và rèn luyện khả năng phát biểu, trình bày vấn đề.

Với biện pháp này, buộc SV phải có giáo trình, phải tự đọc và độc lập suy nghĩ, hoặc hợp tác nhóm, không thể thụ động dựa dẫm vào người khác. Để khích thích các em đọc và suy nghĩ, khi gọi SV trình bày, có thể yêu cầu bất cứ em nào và có khi kêu một em nào đó trong nhiều lần. Làm như vậy buộc các em đều phải chuẩn bị, phải chủ động trong giờ lên lớp. Khi yêu cầu SV trình bày, em nào trình bày tốt, có liên hệ thực tiễn, GV có thể cộng điểm khuyến khích.

Về hướng dẫn sinh viên tự học ở nhà. Đây là những nội dung rất quan trọng, làm tốt khâu này giúp cho SV nắm sâu, nắm vững kiến thức đã học và thuận lợi khi tiếp nhận tri thức mới. Khi đến những nội dung cần hướng dẫn, tôi mở đường Hypelink đến các tài liệu đã liên kết, hoặc các tài liệu khác, giới thiệu qua các tài liệu đó, hướng dẫn các em đọc và cần nắm vững những nội dung chính nào đó.

Vận dụng biện pháp trên, như ở Chương 1, khi nói đến Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, tôi sẽ mở liên kết giới thiệu nội dung Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt... để các em biết và yêu cầu các em xem kỹ nội dung các văn kiện đó. Hoặc yêu cầu SV đọc tác phẩm “Đường kách mệnh”, trong đó phải ghi nhớ nội dung chính và ý nghĩa tác phẩm.

Một nội dung rất quan trọng trong hướng dẫn học tập ở nhà là chuẩn bị thảo luận. Các nội dung thảo luận đều được đề cập trong Đề cương chi tiết học phần. Nhưng khi tới cuối mỗi chương, tôi đều có mục hướng dẫn sinh viên chuẩn bị bài, xem lại phần đã học, đọc giáo trình của buổi học tiếp và chuẩn bị nội dung thảo luận. Khi dặn SV chuẩn bị, tôi yêu cầu xác định hướng giải quyết vấn đề, cấu trúc và nội dung cần làm rõ.

Vận dụng, Chương 2 - Đường lối đấu tranh giành chính quyền (1930-1945), nội dung thảo luận là “Vấn đề chính quyền được Đảng ta nhận thức và giải quyết như thế nào trong thời kỳ 1930-1945?”. Khi đưa ra nội dung này, tôi yêu cầu làm rõ: vấn đề chính quyền được Đảng ta “nhận thức” và “giải quyết” như thế nào? Hãy tự lựa chọn cấu trúc hợp lý nhất.

Khi đến nội dung thảo luận, trước hết là kiểm tra sự chuẩn bị của SV. Ở khâu này tôi thấy, trong 1 - 2 tuần đầu, số SV có chuẩn bị bài chỉ khoảng từ 30 - 40% tuỳ theo lớp. Lý do số chuẩn bị còn thấp là những buổi đầu còn chệch choặc, người đi học người chưa đi, thậm chí có SV chưa biết phòng học ở đâu, còn nữa là các em chưa chuẩn bị được giáo trình.

Khi tình huống này xẩy ra, tôi nhắc nhở sinh viên nhanh chóng ổn định học tập, mua, mượn giáo trình và chuẩn bị bài nghiêm túc hơn. Nếu hai lần không chuẩn bị bài trở lên sẽ bị trừ điểm quá trình.

Khi tiến hành thảo luận, GV đứng ra điều hành, có thể cho SV trình bày theo nhóm hoặc cá nhân, rồi yêu cầu các nhóm còn lại và SV khác phát biểu ý kiến bổ sung, tổ chức tranh luận những vấn đề còn chưa thống nhất. Sau thảo luận GV kết luận vấn đề. Để buổi thảo luận đạt kết quả tốt, GV cần nhận xét cái hay, dở về sự chuẩn bị, nội dung, cấu trúc và phong cách trình bày, để SV rút kinh nghiệm, em nào, nhóm nào chuẩn bị kỹ, trình bày thuyết phục cho điểm thưởng khuyến khích.

Việc tổ chức thảo luận cứ tuần tự tiến hành qua các chương. Từ buổi thứ 3 - 4 trở đi, số sinh viên chuẩn bị bài có tốt hơn và đạt khoảng từ 60 đến 90%, ít khi nào đạt 100%.

Trên đây là một số biện pháp mà tôi và Bộ môn Đường lối... đã triển khai thực hiện những năm gần đây, kết quả cho thấy, tính tự giác của SV được cải thiện, chất lượng học tập được nâng cao. Vấn đề đặt ra, cần tiếp tục đổi mới và có quyết tâm thực hiện, để việc giảng dạy các môn Lý luận Chính trị đi vào chiều sâu và đạt hiệu quả cao.

3. Một số khó khăn trong thực hiện và hướng khắc phục

 Dạy - học theo học chế tín chỉ là cách dạy học tiên tiến, hướng dẫn SV tự học là một biện pháp quan trọng trong loại hình này. Tuy nhiên, trong việc tự học và hướng dẫn tự học của thầy và trò cũng gặp phải nhiều khó khăn, vướng mắc. Vậy, khó khăn, vướng mắc đó là gì, hướng khắc phục ra sao, cần làm rõ vấn đề này.

Về khó khăn, vướng mắc: Trước hết về phía người học, tính tự giác, chủ động trong học tập chưa chuyển biến kịp trong những năm đầu, họ vẫn học theo kiểu ở phổ thông, tức thụ động nghe giảng, ghi chép, ít chịu đọc tài liệu và độc lập suy nghĩ tìm tòi sáng tạo. Còn ngại khó, ngại khổ, thiếu trí tiến thủ. Chưa trang bị được phương pháp học tập phù hợp.

Về phía người dạy, chưa phân biệt rõ sự khác nhau giữa học chế tín chỉ và niên chế, nên chưa có cách dạy phù hợp. Hơn nữa, một số GV chưa thật nhiệt tình trong giảng dạy, ít chú ý khâu hướng dẫn cho SV tự học, tự nghiên cứu, hoặc giảng dạy theo nối mòn, ít chịu tiếp thu đổi mới. Trong Đề cương chi tiết học phần có khi chưa quy định rõ các hình thức dạy cho từng đơn vị kiến thức. Hơn nữa, khối lượng kiến thức các học phần dài, gây áp lực lớn về thời gian, nhất là khi trường quy định một tín chỉ bằng 15 tiết.

Hướng khắc phục: Đối với người học, SV phải tìm hiểu phương pháp học theo học chế tín chỉ, biết cách đọc tài liệu, tổng hợp kiến thức tại lớp và chuẩn bị bài ở nhà; rèn luyện khả năng nghiên cứu độc lập và hợp tác nhóm; luôn hun đúc tinh thần biết vượt qua khó khăn để chiếm lĩnh tri thức. Một điều nữa cũng cần chú ý là, phải tự trang bị tư duy lý luận,  chịu khó đọc giáo trình, tài liệu tham khảo.

Đối với người dạy, cần nghiên cứu kỹ đặc điểm học chế tín chỉ để thay đổi cách dạy phù hợp. Trong soạn đề cương chi tiết học phần, cần quy định biện pháp tương ứng với từng đơn vị kiến thức. Trong soạn bài, cần cập nhật đề cương và luôn chú ý phần hướng dẫn tự học ở lóp, ở nhà (nội dung gì, yêu cầu phải đạt). Khi lên lớp, cần thể hiện “kịch bản” cho sát thực; phải luôn kiên trì hướng dẫn, theo sát SV trong tất cả các buổi lên lớp, từ buổi đầu đến buổi cuối; cần có chế tài đủ mạnh để buộc SV phải chấp hành những điều GV yêu cầu. Ngoài ra, cần chú ý rèn luyện cho SV khả năng tư duy trừu tượng, tư duy lý luận; biết liên hệ và vận dụng lý luận với thực tiễn.

Khắc phục được những khó khăn, hạn chế trên và biết vượt qua chính mình, tôi nghĩ thầy sẽ dạy tốt - trò sẽ học giỏi.

***

Dạy học là một nghệ thuật, muốn nghệ thuật đạt tới đỉnh cao thì phải có biện pháp thích hợp và lòng nhiệt tình cao cả. Biện pháp là những cách làm để đạt mục đích đề ra, lòng nhiệt tình là sự trăn trở với nghề nghiệp, luôn mong muốn sự tiến bộ của sinh viên.

Mỗi giảng viên hãy làm tốt phần việc của mình, hãy thử trải nghiệm và suy ngẫm một số điều tôi nêu ra trong bài viết, để mỗi chúng ta - GV nói chung và GV Lý luận Chính trị nói riêng, hãy góp phần đem lý luận tiên tiến của thời đại, lý tưởng cách mạng của Đảng làm thông điệp đến với sinh viên - chủ nhân tương lai đất nước, với những con người “vừa hồng vừa chuyên” và góp phần vào công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo Nghị quyết của Đảng”./.

 

 

 

KINH NGHIỆM THỰC TIỄN TRONG KIỂM TRA,

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC Ở SINH VIÊN KHI GIẢNG DẠY

HỌC PHẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

ThS Nguyễn Thị Thảo

(Khoa Lý luận chính trị)                                                                                

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập là một khâu quan trọng trong quá trình đào tạo. Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập không chỉ nhằm mục đích đánh giá kết quả quá trình học tập của người học, nguồn thông tin ngược giúp người dạy nắm bắt được chất lượng, phương pháp của việc giảng dạy để từ đó có những điều chỉnh thích hợp cho công tác giảng dạy của mình mà còn là yếu tố quan trọng để thúc đẩy sinh viên tích cực hơn trong việc tự học, tự nghiên cứu.

Vậy tiến hành kiểm tra đánh giá kết quả như thế nào để khai thác và phát huy được tính chủ động tự học, tự nghiên cứu ở sinh viên? Ở bài viết này, tác giả nêu lên cách thức tiến hành và một số kinh nghiệm trong kiểm tra đánh giá để có kết quả cao mà bản thân đã rút ra khi giảng dạy học phần tư tưởng Hồ Chí Minh trong năm học vừa qua.

2/ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Hoạt động kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa quan trọng với cả người học và người dạy. Công việc này tác động tích cực trên nhiều phương diện khác nhau. Với người học, việc kiểm tra, đánh giá có hệ thống sẽ cung cấp cho người học những thông tin mang tính “liên hệ ngược trong” giúp người học tự điều chỉnh hoạt động học. Qua đó giúp người học kịp thời nhận ra mức độ đạt được trong kiến thức của mình, những kiến thức nào còn “trống” trước khi học nội dung tiếp theo của chương trình. Nếu việc kiểm tra diễn ra nghiêm túc, công bằng sẽ giúp nâng cao ý thức tự giác học tập ở sinh viên. Với người dạy, tiến hành việc kiểm tra, đánh giá người học sẽ giúp cho họ có những thông tin “liên hệ ngược ngoài”. Qua đó rút kinh nghiệm, điều chỉnh mục tiêu, lựa chọn phương pháp và nội dung trong quá trình dạy học. Kiểm tra đánh giá cũng là một trong những động lực quan trọng nhằm phát huy hoạt động tự học của sinh viên.

Trong quy chế đào tạo theo học chế tín chỉ, để tiếp thu một giờ học trên lớp, sinh viên phải dành 2 giờ tự nghiên cứu ở nhà. Với quy định này, đòi hỏi người học không chỉ lên lớp tiếp thu bài mà còn phải tăng cường tự học, tự nghiên cứu trước và sau khi lên lớp, tức là hoạt động tự học,tự nghiên cứu của họ phải được phát huy nếu không muốn có kết quả kém.

Mô hình dạy học trước đây, công tác kiểm tra đánh giá sinh viên chủ yếu được thực hiện ở khâu cuối cùng trong quá trình dạy học (tức là như thi kết thúc học phần). Với cách kiểm tra đánh giá này, người học chỉ tập trung học ở những câu hỏi ôn tập ở cuối kỳ và thời gian ôn thường là trước kỳ thi 2-3 tuần. Do vậy, cách tổ chức kiểm tra đánh giá này không đòi hỏi cũng như chưa thúc đẩy được hoạt động tự học, tự nghiên cứu của sinh viên. Ngày nay, dạy học theo tín chỉ thì công tác kiểm tra đánh giá được coi là một quá trình khi giảng dạy học phần đó. Tức là việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên được tiến hành ở nhiều thời điểm khác nhau. Cụ thể, để kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn học, giảng viên phải đánh giá toàn diện, bao gồm điểm thi kết thúc môn và điểm quá trình. Trong đó điểm quá trình là sự tổng hợp của các thành phần gồm điểm tự nghiên cứu, chuyên cần, điểm thảo luận nhóm, điểm kiểm tra giữa kỳ, điểm kiểm tra cuối kỳ… Với cách này, đòi hỏi người học phải luôn trong tư thế phải trả lời các câu hỏi của giáo viên nên bắt buộc họ phải tăng cường tự học, tự nghiên cứu trước khi lên lớp, tức là hoạt động tự học,tự nghiên cứu của họ phải được phát huy nếu không muốn có kết quả kém.

Theo “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” quy định, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân. Học phần tư tưởng Hồ Chí Minh có 2 tín chỉ tức là 30 giờ lên lớp và số giờ tự nghiên cứu ở nhà là 60 giờ. Như vậy, một học kỳ 15 tuần thì mỗi tuần sinh viên phải dành 4 giờ tự nghiên cứu cho môn học. Đây là một khoảng thời gian rất quan trọng khi học môn tư tưởng Hồ Chí Minh (có phải rất lớn không?) nếu người học thực hiện đúng theo yêu cầu.

Để kiểm tra đánh giá được quá trình tự học của sinh viên một cách có hiệu quả, ngay từ buổi học đầu tiên, tác giả dành một khoảng thời gian để cung cấp đầy đủ các vấn đề liên quan tới hoạt động tự học, tự nghiên cứu của sinh viên như sau:

 - Thông tin cơ bản về môn học: số tiết, mục tiêu chung, nội dung cơ bản; đặc biệt là nhấn mạnh những vấn đề sinh viên phải tự nghiên cứu ở nhà, ngoài ra trong các tiết học giảng viên sẽ tiếp tục đặt ra những vấn đề để sinh viên tự nghiên cứu giải quyết.

- Giới thiệu các tài liệu phục vụ cho môn học - những tài liệu phải có trong thư viện trường để sinh viên có thể mượn về nhà nghiên cứu; các trang báo điện tử chính thống.

- Hình thức kiểm tra đánh giá: thông qua các câu hỏi mà giảng viên đặt ra trong các tiết giảng, tiết thảo luận; các bài kiểm tra ngắn, bài thi; bài tập nhóm…

- Cách tính điểm hoạt động tự học, theo ĐCCTHP, cột điểm quá trình của môn học tư tưởng Hồ Chí Minh chiếm trọng số 40%, bao gồm: (1) cột điểm nhận thức và chuyên cần; (2) cột điểm thảo luận nhóm; (3) cột điểm thi giữa học phần, còn lại điểm thi kết thúc học phần chiếm 60%. Điểm đánh giá quá trình tự học của sinh viên được tác giả tính vào cột điểm số (1) và số (2) (mỗi cột chiếm 5%). Ngoài ra, nếu sinh viên tích cực trong học tập trên lớp như: thường xuyên phát biểu xây dựng bài, chất lượng hoàn thành bài tập ở nhà, tích cực đọc tham khảo các tài liệu… thì giảng viên sẽ có điểm thưởng trực tiếp hoặc gián tiếp: cho điểm A, cộng điểm vào cột điểm thi giữa học phần…

* Đánh giá hoạt động tự nghiên cứu của sinh viên:

Trong đào tạo theo học chế tín chỉ, khi hoạt động tự học là một thành phần bắt buộc trong cơ cấu thời khóa biểu thì cần phải có các hình thức kiểm tra - đánh giá hoạt động này. Nếu giảng viên chỉ giao nhiệm vụ tự học mà không tổ chức kiểm tra, đánh giá thì hoạt động học tập này chỉ mang tính hình thức, đối phó mà không đem lại kết quả như mong muốn. Do vậy, đòi hỏi giảng viên phải thường xuyên kiểm tra đánh giá sinh viên trong suốt quá trình của môn học. Qua đó hình thành cho sinh viên cách làm việc nghiêm túc, tính tích cực và ý chí phấn đấu vươn lên để đạt kết quả cao trong học tập.

Việc kiểm tra đánh giá hoạt động tự học được chia làm 2 loại: đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ.

Đánh giá thường xuyên tức là được tiến hành hàng tuần: đầu buổi, cuối buổi hoặc giữa buổi. Đầu buổi thường là tiến hành hỏi như kiểm tra bài tập về nhà, giữa buổi là khi học bài mới có những nội dung liên quan đến phần tự học mà giáo viên đã nhắc về học, cuối buổi là có sự tổng kết để thấy được mối liên quan giữa nội dung của các chương. Hình thức đánh giá là bằng các câu hỏi trắc nghiệm (đúng/sai, điền khuyết, câu hỏi trả lời ngắn, câu hỏi nhiều lựa chọn), câu hỏi tự luận ngắn hoặc mở rộng, câu hỏi yêu cầu nêu ý cơ bản của nội dung tự học…Mỗi câu trả lời chính xác, sinh viên sẽ được một dấu A hoặc B hoặc C. Nếu câu trả lời sai thì có thể bị dấu D (trường hợp giáo viên gọi đứng dậy trả lời) hoặc không bị đánh dấu (trường hợp sinh viên giơ tay). Điểm của những lần đánh giá này cộng với lần đánh dấu ở đánh giá định kỳ cho ra cột điểm tự nghiên cứu. Thực chất mục đích “kiểm tra” để lấy điểm là phụ, điều quan trọng là tạo động lực cho người học, đồng thời qua đó người dạy điều chỉnh được phương pháp dạy học của mình sao cho hiệu quả hơn.

Đánh giá định kỳ là vào tuần thứ 5, tuần thứ 10 và tuần thứ 13. Những câu hỏi ở những lần này thường sâu và rộng, có những câu hỏi còn mang tính vận dụng, liên hệ. Sinh viên phải làm vào giấy, sau đó nạp lại cho giáo viên.

Ví dụ: kể một câu chuyện về Bác (câu chuyện liên quan tới 1 nội dung trong các phần tự học). Từ đó rút ra ý nghĩa cho bản thân. Hoặc nêu nội dung cơ bản của một vấn đề nào đó ở phần tự học mà Anh/chị cảm thấy tâm đắc nhất…

Đợt kiểm tra định kỳ thứ nhất, Giảng viên sẽ cho ½ số sinh viên làm bài, sau đó nạp lại để ½ số sinh viên không làm bài chấm (không cho điểm chính thức mà đánh dấu (A/B/C…), giáo viên sẽ ghi nhận kết quả đã làm của họ, sau đó gửi lại cho sinh viên. Việc làm này nhằm tuyên dương, động viên những sinh viên có bài làm tốt, đồng thời giúp các sinh viên tham gia chấm điểm hiểu được cách thức làm bài và tạo được hứng thú học tập ở môn học này. Đợt kiểm tra định kỳ thứ hai vào tuần thứ 10 giảng viên cũng sẽ tiến hành như đợt thứ nhất, chỉ khác là đổi người làm bài và chấm bài. Đợt kiểm tra định kỳ thứ ba, cả lớp sẽ tham gia làm bài, giáo viên sẽ chấm. Sau khi có kết quả bài kiểm tra, giáo viên sẽ nhận xét và công bố ngay cho người học. Như vậy để những người có kết quả bài làm tốt họ tiếp tục cố gắng, những người có kết quả chưa cao họ sẽ cố gắng hơn và đặc biệt qua đó để nhắc nhở những sinh viên không có bài nộp cần hoàn thành nhiệm vụ của mình. Buổi cuối cùng của môn học, giảng viên sẽ thông báo kết quả cuối cùng cho cả lớp biết.

Dưới đây là kết quả chấm điểm hoạt động tự nghiên cứu của 485 sinh viên thuộc 7 lớp của khóa13 học kỳ 1, năm học 2014-2015, khi tham gia học môn tư tưởng Hồ Chí Minh:

STT

Lớp học phần

Tổng số SV

Điểm >5

Điểm <5

Không NC

1

0321213

61

46

10

5

2

0321207

90

72

14

4

3

0321206

68

62

5

1

4

0321221

72

66

5

1

5

0321228

52

36

13

3

6

0321219

56

50

5

1

7

0321220

86

69

13

2

Từ kết quả trên cho thấy, phần lớn sinh viên đều tích cực tham gia phát biểu, làm bài kiểm tra định kỳ đầy đủ nên có kết quả điểm cao >5 điểm. Bên cạnh đó, vẫn còn một số sinh viên không làm bài, không  giành thời gian cho tự học hoặc học cho qua, học đối phó.

* Một số kinh nghiệm của bản thân khi tiến hành kiểm tra đánh giá

Từ thực tiễn giảng dạy học phần tư tưởng Hồ Chí Minh theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Tiền Giang trong năm qua, tác giả rút ra được một số kinh nghiệm về tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động tự học của sinh viên như sau:

Thứ nhất, khi bắt đầu đặt bút soạn bài giảng, người dạy phải xác định công tác kiểm tra đánh giá là bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học và là động lực để thúc đẩy sự đổi mới quá trình dạy và học. Từ đó, trong bài soạn giáo viên sẽ đưa ra được các cách kiểm tra, đánh giá nhằm khuyến khích sinh viên tự tìm tòi, nghiên cứu tài liệu để phục vụ cho quá trình học tập.

Thứ bai, ngay từ buổi học đầu tiên, cần giới thiệu đề cương chi tiết cho người học, đặc biệt nhấn mạnh những phần người học phải tự nghiên cứu, để họ chủ động trong việc xây dựng kế hoạch học tập cho bản thân. Ðề cương này xem như là hợp đồng giữa người dạy và người học.

Thứ ba, ngoài những tài liệu đã nêu trong đề cương chi tiết của học phần, trước mỗi chương, giáo viên cũng cần giới hạn các tài liệu, trang báo điện tử chính thống để sinh viên dễ dàng tìm kiếm, thu thập tài liệu, tránh trường hợp sinh viên tìm kiếm nhiều nhưng không có kết quả, tính chính xác chưa cao hoặc tài liệu không chính thống, điều này thường làm sinh viên ngại vì sợ sai “quan điểm”.

Thứ tư, để đảm bảo tính khách quan, trung thực và công bằng trong quá trình kiểm tra đánh giá, ngay ở tiết đầu môn học, giáo viên cần cho sinh viên biết cách tính điểm cho những phần mà sinh viên tự nghiên cứu, đặc biệt cần nhấn mạnh về điểm cộng, điểm thưởng cho các cá nhân tích cực trong hoạt động tự nghiên cứu. Bên cạnh đó, phải biết kịp thời khuyến khích, động viên những sinh viên có ý thức tự giác chưa cao, chưa dành nhiều thời gian cho hoạt động tự học.

Thứ năm, áp dụng nhiều hình thức kiểm tra đánh giá khác nhau: trắc nghiệm, tự luận, làm bài nhóm, đọc thơ, kể chuyện…; dạng câu hỏi đặt ra cho sinh viên cũng phải đảm bảo ở nhiều mức độ: dễ, trung bình, khó để mọi sinh viên đều có cơ hội trả lời, nhất là những sinh viên có trình độ chưa cao; giáo viên phải thực hiện kiểm tra đánh giá một cách thường xuyên, tránh trường hợp đưa ra câu hỏi yêu cầu sinh viên tự nghiên cứu nhưng bản thân lại không có sự kiểm tra, đánh giá.

Thứ sáu, khi nhận xét và đánh giá câu trả lời hoặc bài kiểm tra thì dù đó là câu trả lời sai chúng ta cũng không nên phủ nhận hoàn toàn hoặc nhận xét “câu trả lời của bạn là sai”, chúng ta phải có lời cảm ơn, động viên đối với họ, khuyến khích họ lần sau tiếp tục tham gia. Sau đó giáo viên sửa, góp ý và định hướng cho họ một cách khéo léo, nhất là chỉ thêm một số tài liệu để họ về tiếp tục tự nghiên cứu.

3. KẾT LUẬN

Có thể nói, giáo dục đại học phải coi trọng bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng. Để phát huy được điều đó, đòi hỏi trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần phải có phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên một cách hiệu quả. Bởi nếu giáo viên có kiểm tra đánh giá phù hợp sẽ hình thành cho sinh viên cách làm việc nghiêm túc, tính tích cực và ý chí phấn đấu vươn lên để đạt kết quả cao trong học tập. Trên đây chỉ là một số cách làm và kinh nghiệm mà bản thân rút ra qua quá trình giảng dạy môn học tư tưởng Hồ Chí Minh ở trường Đại học Tiền Giang. Tác giả thiết nghĩ, nếu chúng ta thực hiện tốt như những kinh nghiệm rút ra như trên thì sẽ mang lại kết quả cao trong quá trình giảng dạy các môn học nói chung và môn học tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng.                                          

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Bộ giáo dục và Đào tạo (2011), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội.

[2]. PGS.TS. Đặng Xuân Hải (2013), Kỹ thuật dạy học trong đào tạo, NXB Bách Khoa - Hà Nội.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỘT SỐ KỸ NĂNG CẦN CÓ ĐỐI VỚI SINH VIÊN TRONG

HỌC TẬP HỌC PHẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

ThS Lê Anh Thi

(Khoa Lý luận chính trị)

Tóm tắt

          Để theo kịp xu thế mới của thời đại đòi hỏi đất nước phải đổi mới toàn diện ở tất cả các lĩnh vực. Giáo dục, đào tạo trong giai đoạn hiện nay cũng nằm trong xu thế đó. Do đó, luôn đổi mới phương pháp dạy và học để phát huy tính tích cực trong sinh viên. Khác so với cách thức giảng dạy ở bậc học phổ thông, tự học được xem là một hình thức phổ biến ở các trường đại học. Tuy nhiên, không ít sinh viên gặp khó khăn trong vấn đề tự học nói chung và tự học học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng. Để giúp sinh viên có một vài định hướng trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, tác giả xin đưa ra một vài kỹ năng trong quá trình tự học học phần này nhằm giúp các em có phương pháp tự học tốt, đem lại kết quả cao.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

          Giáo dục, đào tạo được xem là quốc sách hàng đầu có nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài nhằm phát triển trí tuệ, tạo động lực cho sự phát triển của đất nước trong thời đại mới. Chính vì vậy, ở bậc cao đẳng, đại học việc đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu cấp thiết. Nếu như trước đây, vai trò của người giáo viên là trung tâm, là yếu tố quyết định thành công hay thất bại trong giờ học thì ngày nay quan điểm “lấy người học làm trung tâm” đã được thay thế. Dạy học “lấy người học làm trung tâm” là một xu hướng dạy học hướng vào người học, đề cao vai trò chủ thể, tính tích cực chủ động của người học. Người dạy chỉ đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, còn người học là người thực hiện, phát hiện và quyết định quá trình nhận thức của mình.

          Bước vào ngưỡng cửa cao đẳng, đại học, thời gian học trên lớp rất hạn chế (50 phút/tiết), mỗi môn học thưởng chỉ từ 2 – 3 tín chỉ nhưng kiến thức trong môn học rất nhiều nội dung. Với thời lượng như thế giảng viên không thể chuyển tải tất cả một lượng kiến thức đồ sộ cho sinh viên, chỉ truyền thụ những kiến thức rất đổi cơ bản trong giáo trình. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, sinh viên không thể làm giàu thêm vốn kiến thức của mình, cũng như không thể hiểu sâu, không thể biến kiến thức “chung” thành “riêng”. Do đó, điều quan trọng và cấp thiết ở đây là đòi hỏi sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu.

       Đối với học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh, vẫn còn rất nhiều sinh viên không đưa ra cho mình một phương pháp học tập tốt, một kế hoạch, cũng như những kỹ năng cần thiết trong tự học học phần này. Vậy, làm thế nào để sinh viên rèn luyện cho mình được những điều đó? Trong bài viết này tác giả xin đề cập đến một số kỹ năng tự học cần thiết để sinh viên có thể tham khảo và ứng dụng vào quá trình học tập của mình nhằm đạt kết quả tốt nhất.

II. NỘI DUNG

1. Tự học là gì? 

          Hiểu theo đúng bản chất thì “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của riêng mình”. [2]

2. Một số kỹ năng tự học học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh

          Trong Đề cương chi tiết học phần của học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh, ngoài quy định những kiến thức trọng tâm được giảng viên truyền tải còn có phần quy định nội dung tự học đối với sinh viên. Đây là nội dung mà sinh viên thường lầm tưởng là không quan trọng và bỏ qua. Thế nhưng, nếu chỉ hiểu một cách phiến diện như thế thì sinh viên khó có thể hoàn thành tốt học phần này, cũng như không có thêm được những kiến thức chuyên sâu về tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi, nội dung kiến thức giảng viên chuyển tải trên lớp chỉ là khái quát. Do vậy, muốn có kiến thức sâu và rộng hơn thì bản thân sinh viên phải tự ý thức việc tự học, tự nghiên cứu học phần này.

          Để việc tự học đạt kết quả cao, sinh viên và giảng viên cần chú ý thực hiện một số biện pháp sau:

2.1.  Xây dựng một kế hoạch học tập hợp lý

* Đối với sinh viên

     Một trong những vấn đề gây khó khăn cho sinh viên trong việc tự học các học phần nói chung và học phần tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng đó chính là các em không hoặc không biết xây dựng một kế hoạch học tập hợp lý.

     Do vậy, để có thể tự học tốt, sinh viên nên xây dựng cho mình một kế hoạch học tập thật khoa học. Yêu cầu trước tiên là các em phải nắm được Đề cương chi tiết học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh, xác định những nội dung tự học, nội dung cần nghiên cứu sâu, các câu hỏi thảo luận; tài liệu tham khảo thêm (ngoài tài liệu trong đề cương, sinh viên có thể trao đổi thêm với giảng viên một số tài liệu, những trang website chính thống phục vụ môn học). Sau đó, các em xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng chương cụ thể về thời gian tự học, nội dung tự học, địa điểm, phương tiện hỗ trợ,… Khi đã có được một kế hoạch tự học, các em nên dán lên tường hoặc những nơi dễ quan sát. Việc làm này sẽ giúp các em ghi nhớ và nhắc nhở bản thân không sao nhãng và kiên trì tự học thường xuyên.

* Yêu cầu đối với giảng viên

Để giúp sinh viên có phương pháp học tập tốt, cũng như xây dựng cho mình một kế hoạch giảng dạy học phần mình phụ trách, ngay từ tiết đầu tiên của chương trình học, cung cấp ngay cho sinh viên Đề cương chi tiết học phần. Đây là kế hoạch khá chi tiết về thời lượng, nội dung giảng viên giảng, nội dung tự học, tài liệu tham khảo, gợi ý một số phương pháp học tốt nhất nội dung đó.

 Qua khảo sát từ thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy rằng, nếu giảng viên chỉ giới thiệu mà không cung cấp Đề cương chi tiết học phần đến tay sinh viên, họ sẽ không có ý thức, không có phương tiện trong việc xác định và xây dựng kế hoạch học tập. Ngược lại, tỷ lệ sinh viên có ý thức chuẩn bị bài trước khi đến lớp, chuẩn bị nội dung thảo luận và tự học cao hơn.

2.2. Tự học trước khi lên lớp

* Đối với sinh viên

          Thứ nhất: Chỉ với thời lượng 30 tiết, 2 tín chỉ nhưng lượng kiến thức học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh là rất lớn, rất phong phú và luôn được cập nhật. Để chiếm lĩnh nó một cách đầy đủ, điều rất quan trọng là sinh viên phải chuẩn bị bài thật tốt trước khi đến lớp. Vậy, việc chuẩn bị bài học phần này cần tiến hành thế nào?

          Đầu tiên, tập hợp các tài liệu có liên quan (giáo trình, sách, tập bài giảng, báo, tạp chí,… các em có thể tham khảo các tài liệu này trên thư viện Trường). Quá trình thu thập tài liệu cần được thực hiện thường xuyên và liên tục. Cần có sơ mi lưu trữ riêng và chia ra từng cụm nội dung (chẳng hạn như tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc; tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao; tư tưởng Hồ Chí Minh đạo đức cách mạng; tư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống mới;… Tương tự như vậy, khi tìm được những tài liệu trên Internet,… thì lưu trữ trong những thư mục riêng. Điều đó giúp các em thuận lợi hơn khi tự học nội dung từng chương trong giáo trình các em sẽ dễ dàng tìm lại vì nó đã sắp xếp có trật tự. Những nguồn mà sinh viên có thể tìm kiếm thông tin đó là:

          * Internet: Mạng Internet mang lại rất nhiều tiện ích hữu dụng cho người sử dụng, một trong các tiện ích phổ thông của Internet là hệ thống thư điện tử (email), trò chuyện trực tuyến (chat), truy tìm dữ liệu (search engine),… Chúng cung cấp một khối lượng thông tin khổng lồ. Đây là lợi thế rất lớn cho sinh viên.

Vấn đề là làm thế nào để khai thác Internet đạt kết quả tốt nhất khi tự học học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác giả xin cung cấp một số những website tìm kiếm tư liệu về Hồ Chí Minh chính thống mà sinh viên có thể truy cập là: http://dangcongsan.vn/cpv/; http://www.baotanghochiminh.vn/http://www.tapchicongsan.org.vn/; http://www.xaydungdang.org.vn/; http://www.nhandan.com.vn/; http://baoquandoi.vn; http://tutuonghochiminh.vn/; http://tennguoidepnhat.net/;... Điểm cần lưu ý khi truy cập Internet là sinh viên phải biết chọn lọc thông tin phù hợp và những website chính thống nếu không rất dễ bị những thông tin phản động gây “nhiễu”.

          * Sách: Bacon từng nói: “Một giọt mực có thể làm vạn người suy nghĩ/ Một quyển sách hay có thể làm thay đổi số phận biết bao người”. Đúng vậy, sách mang lại cho chúng ta nhiều điều bổ ích. Ngày nay, với nhiều phương tiện truyền thông hiện đại có thể giúp con người học hỏi và trao dồi kiến thức nhưng vẫn không thể hoàn toàn thay thế được sách. Ngoài sách chuyên ngành liên quan đến học phần, sinh viên nên đọc thêm những thể loại sách khác để làm phong phú thêm vốn tri thức. Đồng thời cũng có thể áp dụng những tri thức ấy để minh họa cho môn học, đưa ra những ý tưởng sáng tạo mới mẻ.

Thế nhưng, thị trường sách rất phong phú và đa đang, việc chọn được cuốn sách hay và phù hợp là tương đối khó. Sinh viên nên tham khảo ý kiến của các thầy, cô, bạn bè, những người có kiến thức rộng để tham khảo những quyển sách hay, phù hợp. Khi chọn sách, sinh viên nên tìm hiểu trước tiên là tên sách, tác giả, lời nói đầu, mục lục. Việc làm này rất quan trọng giúp sinh viên có được sự lựa chọn đúng và phù hợp.

Một số quyển sách hay về Hồ Chí Minh mà sinh viên có thể tham khảo là: Võ Nguyên Giáp (2000), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2007), Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Song Thành (2005), Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận chính trị; Vũ Đình Hoè, Bùi Đình Phong (Đồng chủ biên) (2010), Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Trần Văn Bính (2010), Di sản Hồ Chí Minh về đạo đức, văn hóa, Nxb Thông tin và Truyền thông; Sơn Tùng (2000), Búp sen xanh, Nxb Nhi đồng;…

Ngoài ra, còn những nguồn tư liệu khác như: Báo, tạp chí chuyên ngành, tập bài giảng,…

          Thứ 2: Sinh viên cần xác định các luận điểm cơ bản của bài học (các đề mục, các nội dung chính của từng phần) từ đó xây dựng một hệ thống các kiến thức khái quát. Gạch những ý chính trong giáo trình, đây là việc được thực hiện trước khi đến lớp, cần bổ sung thêm nội dung này được giảng viên truyền thụ khi lên lớp. (Đừng ngại “dơ” giáo trình vì sau khi kết thúc học phần sinh viên sẽ dễ dàng hơn rất nhiều cho việc ôn tập).

          Thứ 3: Tục ngữ Việt Nam có câu “Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học”. Tự đặt ra những câu hỏi, thắc mắc trong khi nghiên cứu giáo trình là chìa khóa làm giàu tri thức, đừng ngại đặt câu hỏi cho bản thân và cho cả giảng viên. Việc ghi chú những ý chưa hiểu sẽ giúp sinh viên chủ động hơn trong các câu hỏi sẽ đặt ra hoặc chú ý kỹ khi giảng viên giảng nội dung đó. Sau khi lên lớp sinh viên sẽ đưa ra để cùng trao đổi với giảng viên, việc lĩnh hội tri thức sẽ dễ dàng và ghi nhớ lâu hơn.

          Thứ 4: Trong khi học học phần này, sinh viên không thể đóng vai trò thứ yếu mà ngược lại phải có một thái độ học tập tích cực. Khi giảng viên đặt vấn đề, gợi ý thì nên mạnh dạn trả lời (khi này sẽ hình thành cho sinh viên nhiều kỹ năng, nhất là kỹ năng nói trước đám đông, kỹ năng tư duy,…) thậm chí có thể chất vấn ngược trở lại giảng viên. Khi lên lớp, sinh viên không nên cấm cúi ghi lại tất cả những gì giảng viên giảng, càng không nên không ghi gì vì cho rằng đã có trong giáo trình mà phải kết hợp giữa ghi chép và lắng nghe. Ghi chép, nên ghi những ý chính, trọng tâm, những ví dụ minh họa và tốt nhất là ghi theo cách hiểu của riêng mình.

          Thứ 5: “Học đi đôi với hành”

          Thời gian sau khi lên lớp sẽ giúp sinh viên củng cố và tìm hiểu sâu hơn những nội dung kiến thức. Nên làm bài tập, những câu hỏi thảo luận, hay những vấn đề giảng viên đặt ra. Song song đó, sinh viên cần đào sâu kiến thức bằng những tài liệu, sách, tạp chí,… có liên quan. Thường xuyên tư duy và quan sát thực tiễn để đưa ra sự đánh giá, so sánh, vận dụng lý thuyết môn học vào thực tiễn. Trong học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh, có những nội dung kiến thức rất hay, sâu sắc, khoa học nhưng cũng mang đậm tính nhân văn và gần gũi. Ví như: Bác nói “Nói đi đôi với làm”; “Đoàn kết là sức mạnh”; lời Bác dạy thanh niên; tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới; tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa giáo dục;… Sinh viên hoàn toàn có thể vận dụng vào trong cuộc sống.

* Yêu cầu đối với giảng viên

          Thứ nhất: hướng dẫn cho sinh viên tự học

          Đối với giảng viên, việc hướng dẫn phương pháp, phương tiện cho sinh viên tự học là một việc làm rất cần thiết. Do vậy, tôi rất quan tâm thực hiện vấn đề này. Khi hướng dẫn cho sinh viên tự học, tôi thường hướng dẫn chung về vấn đề tự học, tự nghiên cứu toàn bộ học phần này như: sinh viên cần đọc những tài liệu nào?, tham khảo tư liệu ở đâu?, bằng phương pháp gì?,… Đồng thời, hướng dẫn từng nội dung tự học được Bộ môn quy định ở từng chương trong Đề cương môn học, cụ thể là:

          - Trong từng nội dung tự học, tác giả sẽ đưa ra cho sinh viên những vấn đề cần phải nắm được sau khi tự học, bằng cách sử dụng những câu hỏi gợi mở. Vd: Ở chương 5 – Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Nội dung tự học của chương này là “Vai trò của đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng”. tác giả sẽ đưa ra một số câu hỏi gợi mở như: Đại đoàn kết là gì? Tại sao phải thực hiện đại đoàn kết? Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng có vai trò như thế nào? Vì sao Hồ Chí Minh cho rằng, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng? Vì sao Hồ Chí Minh cho rằng, đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc? 

          - Giới thiệu và cung cấp các nguồn tài liệu từ sách, giáo trình, các bài đăng trên các webside,… đến sinh viên nhằm giúp các em thuận lợi hơn trong quá trình tự nghiên cứu tri thức môn học. Tuy nhiên, giảng viên cũng chỉ định hướng một vài tài liệu đến sinh viên, tránh tâm lý ỷ lại và không chủ động.

          - Gợi ý những những phương pháp nghiên cứu hiệu quả đối với từng nội dung cụ thể.

          Qua thực nghiệm tác giả nhận thấy, khi có được sự hướng dẫn từ giảng viên, sinh viên sẽ có tinh thần tự học cao hơn, kết quả tốt hơn so với việc giảng viên không hướng dẫn, gợi mở.

          Thứ hai: tương tác với sinh viên trong quá trình sinh viên tự học

          Thời gian trên lớp, người giảng viên không thể tương tác hoàn toàn với tất cả các vấn đề của sinh viên đặc biệt là vấn đề tự học. Do vậy, tác giả cung cấp cho các em địa chỉ email và số điện thoại để thuận tiện cho việc trao đổi học thuật trong quá trình các em tự học.

          Trong những buổi đầu, sinh viên còn e ngại trao đổi, nhưng qua thực tế tôi nhận thấy rằng, khi được sự hướng dẫn, quân tâm và sự tận tình của giảng viên, sinh viên sẽ không còn tâm lý e dè, họ tin tưởng trao đổi nhiều vấn đề hơn với giảng viên, đặc biệt là trao đổi qua email.

          Thứ ba: kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của sinh viên

          Một trong những việc làm quan trọng nhất của người giảng viên khi quản lý phần tự học của sinh viên đó chính là công tác kiểm tra, đánh giá nội dung tự học. Tác giả thực hiện bằng cách: kiểm tra tập tự học; gọi sinh viên hệ thống hóa lại nội dung tự học; kiểm tra thông qua các câu hỏi trắc nghiệm;… Đánh giá bằng cách cộng điểm cộng cho sinh viên nào có sự chuẩn bị và đầu tư tốt, trả lời chính xác, lập luận logic.

          Qua kiểm chứng tác giả nhận thấy, đối với những lớp giảng viên có sự kiểm tra, đánh giá nội dung tự học, sinh viên sẽ chú ý gần như tuyệt đối vào việc chuẩn bị nội dung tự học trước khi đến lớp (trừ một vài trường hợp cá biệt). Việc đánh giá bằng cách cho điểm cộng sẽ khuyến khích tinh thần xung phong phát biểu trước lớp nội dung tự học và cả những nội dung kiến thức môn học.

2.3. Nhóm học tập

        Nên thành lập nhóm học tập (thường được phân nhóm theo danh sách, theo tổ hoặc cũng có thể thành lập nhóm học tập của riêng mình). “Học thầy không tày học bạn” vì cùng chung lứa tuổi, môi trường học tập thì việc trao đổi, học hỏi lẫn nhau sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Những kỹ năng hợp tác cùng phát triển cũng rất cần cho sinh viên. Khi học nhóm sẽ rèn luyện nhiều kỹ năng, nhất là kỹ năng làm việc nhóm. Tuy nhiên, sinh viên cần tuân thủ những vấn đề sau:

        Nên có kế hoạch học tập cho nhóm, chọn nhóm trưởng và thư ký. Trên cơ sở đó, nhóm trưởng sẽ phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên; thư ký sẽ là người tổng hợp lại những ý kiến của nhóm. Các thành viên trong nhóm phải có ý thức trách nhiệm, những nội dung được phân công phải hoàn thành, tránh ỷ lại và lười biếng. Khi đã có kế hoạch học tập cho nhóm, tất cả phải tuân thủ và đúng giờ. Trong quá trình học nhóm, sinh viên có thể giải quyết các vấn đề của môn học, những vấn đề chưa hiểu thông suốt, những vấn đề muốn tìm hiểu sâu hơn, những câu hỏi thảo luận hoặc cũng có thể là bài tập của giảng viên. Những không gian học nhóm lý tưởng là ghế đá sân trường, những góc học tập mà nhà trường bố trí cho sinh viên.

          Ngoài ra, sinh viên còn có thể trao đổi thêm với giảng viên. Trong quá trình tự học, chắc chắn sinh viên sẽ gặp phải những khó khăn nhất định, những kiến thức không thể tìm ra lời giải đáp. Cách tốt nhất nên trao đổi với thầy, cô giảng dạy. Khi đó, ngoài sự thông suốt, sinh viên còn rèn cho mình sự tự tin, kỹ năng giao tiếp, đây là những kỹ năng cần thiết cho công việc của sinh viên sau này.

3. Những khó khăn và đề xuất một số giải pháp trong việc thực hiện khâu tự học học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh

          3.1. Những khó khăn trong việc thực hiện khâu tự học học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh

* Về phía sinh viên

          - Ý thức tự học của sinh viên: Ý thức là một điều rất quan trọng để tạo ra động cơ và mục đích hướng đến khi thực hiện một vấn đề nào đó. Do vậy, trong vấn đề tự học, một trong những đòi hỏi đầu tiên là sinh viên phải tự ý thức được vai trò quan trọng của được việc cần thiết tự học ở môi trường học tập bậc cao đẳng, đại học. Thực tế cho thấy rằng, không phải sinh viên nào cũng ý thức được một cách đầy đủ và tự giác về việc tự học nói chung và tự học học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng. Họ cho rằng đây là một học phần khô khan, lý thuyết quá nhiều, lại không phải là một chuyên ngành dẫn đến tâm lý “chỉ cần đủ điểm qua là được”. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả đạt được sau khi kết thúc học phần.

          - Sinh viên còn bị phân tán sự tập trung và thời gian tự học vào những phương tiện giải trí: chơi game, facebook, nghiện internet,… đi làm thêm.

          - Qua khảo sát, trao đổi với một số sinh viên tôi nhận thấy một tồn tại ảnh hưởng đến việc tự học đó chính là họ không được hướng dẫn ngay từ đầu và hiểu một cách thấu đáo về việc cần tự học như thế nào hay nói cách khác là họ không được trang bị những kỹ năng cơ bản về vấn đề tự học, dẫn đến mài mò, rút kinh nghiệm. Vì thế phải mất từ 1 đến 2 năm đầu để có thể rút ra phương pháp, kỹ năng tự học tốt cho mình.

* Về phía giảng viên

          Dù có áp dụng một số cách làm nhằm giúp sinh viên có thể tự học học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh một cách tốt nhất nhưng bản thân tôi cũng gặp một số khó khăn nhất định.

          - Số lượng sinh viên trong một lớp học phần quá đông (từ 65 – 90 sinh viên/lớp) dẫn đến việc giảng viên không thể bao quát hết việc tự học của tất cả các em.

          - Với thời gian hạn chế, lượng kiến thức cơ bản cần phải truyền đạt đến sinh viên lại rất nhiều, do đó, giảng viên không có nhiều thời gian hướng dẫn phương pháp tự học học phần này đến sinh viên một cách cụ thể. Đặc biệt là không thể kiểm tra, đánh giá việc tự học của từng sinh viên một cách thường xuyên và liên tục.

* Về phía nhà trường

          - Thiếu không gian cho sinh viên tự học. Đa phần sinh viên Trường ĐHTG từ các huyện, thị khác đến trọ học (từ 4-5 sinh viên/phòng 10m vuông). Do vậy, không gian tự học tại nhà hầu như rất hạn chế, các em thường chọn không gian trong Trường để tự học: ghế đá, phòng học, thư viện,… Nhưng hiện nay Trường ta lại rất thiếu những không gian này.

          - Thư viện Trường không đủ nguồn tư liệu phục vụ học tập, nghiên cứu học phần này.

          3.2. Đề xuất một số giải pháp trong việc thực hiện khâu tự học học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh

          - Giảng viên phải luôn luôn cập nhật thông tin, tự đổi mới phương pháp giảng dạy học phần này nhằm thu hút và kích thích óc sáng tạo, tinh thần tự giác và quyết tâm cao độ, niềm say mê học tập và nghiên cứu của mỗi sinh viên. Tránh giảng lý thuyết chung chung.

           - Trong Đề cương chi tiết học phần cần dành 1 khoảng thời gian nhất định cho việc hướng dẫn sinh viên phương pháp, kỹ năng tự học học phần này.

          - Thư viện Trường cần liên tục cập nhập và cung cấp thêm nhiều sách tham khảo cho sinh viên.

          - Trường cần bố trí thêm không gian học tập cho sinh viên như: mở một số phòng học vào ban ngày và ban đêm (có phương án quản lý trang thiết bị hiệu quả); bố trí thêm bàn, ghế đá ở sân trường,…

III. KẾT LUẬN

          Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy – học theo xu thế chung hiện nay, nếu bản thân sinh viên không tự học hỏi để nâng cao trình độ tri thức, chuyên môn nghiệp vụ, rèn đức, luyện tài thì sau khi ra trường với môi trường lao động năng động và đòi hỏi cao như hiện nay sinh viên sẽ khó kết quả học tập tốt, khó có cơ hội tìm việc làm thích hợp.

          Việc tự học nói chung và tự học học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng là một vấn đề không mấy khó khăn nếu như sinh viên có phương pháp và kỹ năng học tập tốt; biết xây dựng cho mình một kế hoạch học tập môn học; tự học trước khi lên lớp thông qua nhiều “kênh” như sách, báo, tạp chí, internet; cùng nhau học nhóm. Bằng sự siêng năng, chăm chỉ, điều quan trọng là phải xác định mục đích học tập đúng đắn, phải có sự say mê trong học tập việc tự học học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh đạt kết quả cao thì ngoài. Đồng thời, vai trò của người giảng viên cũng không kém phần quan trọng trong vấn đề này, nếu có được sự hướng dẫn, gợi mở, định hướng từ giảng viên, sinh viên sẽ có được hướng tự học tốt nhất. Biện pháp kiểm tra, đánh giá cũng là một trong những điều mà người giảng viên phải áp dụng nhằm tương tác tốt nhất giữa người “dạy” và người “học” học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh.

          Trên đây là những đúc kết mang tính thực tiễn cao, từ nghiên cứu lý luận và từ kinh nghiệm bản thân, hy vọng sẽ giúp ích cho sinh viên trong việc tự học học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời gian tới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Nghĩa Dán, Vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh, Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 2, năm 1998.

2. Đặng Vũ Hoạt, Một số nét về thực trạng, phương pháp dạy học đại học, Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 1, năm 1994.

3.  Đinh Trung Quỳnh, “Nghiên cứu các kỹ năng và biện pháp tự học của sinh viên ĐH Sư phạm Thái Nguyên” (Đề tài NCKH cấp Bộ quản lý), năm 2001.

  1. Nguyễn Thị Xuân Thủy, “Rèn luyện kỹ năng tự học tập cho sinh viên đạp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ” Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt, năm 2012
  2. Nguyễn Cảnh Toàn (Chủ biên), Nguyễn Kỳ – Vũ Văn Tảo – Bùi Tường, (1998),  “Quá trình dạy – tự học”, NXB Giáo Dục.
  3. Nguyễn Cảnh Toàn, Học và dạy cách học, (2004), NXB Đại học Sư Phạm.
  4. Thái Duy Tuyên, Giáo dục học hiện đại - Những vấn đề cơ bản, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.
  5. Tài liệu phương pháp dạy học Đại học
  6.  http://violet.vn/

 

 

 

 

 

 

 

VÀI KINH NGHIỆM TRONG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ

VIỆC TỰ HỌC HỌC PHẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TIỀN GIANG

 

ThS Lê Thị Ánh Vân

(Khoa Lý luận chính trị)

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Đào tạo theo học chế tín chỉ là phương thức đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy - học, tạo cho người học thói quen tự học, tự khám phá kiến thức, có kỹ năng giải quyết vấn đề đồng thời còn giúp cho việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên đúng thực chất.

Trong dạy học theo học chế tín chỉ, hoạt động kiểm tra, đánh giá việc tự học của sinh viên còn giữ vai trò quan trọng trong phát triển trí thông minh, óc sáng tạo trở thành những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội. Song, làm thế nào để sinh viên Trường Đại học Tiền Giang tích cực, tự giác trong tự học, tự nghiên cứu nhất là đối với học phần tư tưởng Hồ Chí Minh.

Để có thể thành công trong phát huy tinh thần học tập tích cực của sinh viên cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ cùng với những kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn giảng dạy.

2. NỘI DUNG

2.1. Thực trạng sinh viên Đại học Tiền Giang với việc tự học

2.1.1. Vài nét về sinh viên Đại học Tiền Giang

Sinh viên Trường Đại học Tiền Giang chịu khó học tập nhưng do chất lượng đầu vào thấp và chưa quen với việc học tập theo học chế tín chỉ, nên phần lớn sinh viên năm đầu thiếu chủ động trong học tập, thường không chuẩn bị bài trước ở nhà, ngoài giờ học ít vào thư viện. Một số sinh viên gặp khó khăn trong cuộc sống, phải đi làm thêm để trang trải cho việc học, một bộ phận sinh viên thường xuyên vắng mặt, ham chơi, gây lãng phí thời gian học tập.

Nhìn chung, ý thức và năng lực tự học của các em còn thấp. “Tự học chưa trở thành hoạt động tự giác, tích cực của đa số sinh viên; nhu cầu tri thức, nhu cầu khám phá cái mới của sinh viên chưa thật sự cao” [3, tr.30]. Chỉ khi nào trên lớp giảng viên thúc giục, đưa ra biện pháp ràng buộc bằng điểm số thì các em mới có chuyển biến.

2.1.2. Thực trạng dạy và học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh

Môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc khoa học chính trị, là một môn học lý thuyết và phần đông sinh viên khi nhắc đến các môn lý luận chính trị đều có tâm lí “ngán học”, học đối phó, chưa thật sự quan tâm đến môn học và chưa học một cách nghiêm túc. Hơn nữa, sĩ số lớp học các môn lý luận chính trị thường quá đông, gây khó khăn cho công tác quản lý lớp cũng như việc đổi mới phương pháp dạy của giảng viên và ảnh hưởng đến chất lượng tiếp thu của sinh viên.

Kết quả học tập học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh cho thây: Điểm quá trình đều đạt từ điểm khá trở lên; Điểm thi kết thúc học phần đa số dưới trung bình. (Kết quả thi môn Tư tưởng Hồ Chí Minh học kỳ I (2013 - 2014) lớp CĐSP Mầm non khóa 12: sinh viên đạt điểm F, D chiếm đến 82,43%) [4].

Thực trạng đó đòi hỏi các giảng viên giảng dạy các môn lý luận chính trị hết sức quan tâm đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy và phương pháp kiểm tra, đánh giá để nâng cao chất lượng học tập của sinh viên một cách thực chất, tiến tới nhận thức đúng ý nghĩa, tầm quan trọng và tích cực học tập các học phần lý luận chính trị.

Trong giảng dạy, giảng viên phải giúp cho cho sinh viên đạt được mục tiêu về kiến thức, kỹ năng và tư tưởng.

Từ kiến thức đạt được qua sự truyền đạt của giảng viên, sinh viên tự nghiên cứu, tìm hiểu sâu vấn đề do giảng viên gọi ý; làm rõ vấn đề nghiên cứu trước đám đông; thông qua đó để rèn luyện kĩ năng diễn đạt, tranh luận, … để củng cố kiến thức và nắm vững vấn đề hơn. Tư tưởng Hồ Chí Minh còn là môn học về tư tưởng của lãnh tụ. Để tiếp thu tốt, giảng viên còn phải làm cho sinh viên có lòng yêu kính Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua hiểu rõ giá trị của tư tưởng cũng như công lao của Người đối với đất nước. Từ đó, có thể học được ở Bác những đức tính tốt, như: cần, kiệm, liêm , chính, yêu thương con người, nghị lực, tinh thần chịu khó, tinh thần lao động, ý chí học tập, kiên trì để đạt được mục tiêu,…

Riêng về phần kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, ngoài ngân hàng đề thi cuối học kỳ (gồm cả trắc nghiệm và tự luận), Bộ môn còn thống nhất đề thi giữa học phần theo hình thức trắc nghiệm. Bên cạnh đó, Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh còn quy định rõ điểm quá trình (40%) có 3 cột, gồm: cột thảo luận (hệ số 1), cột kiểm tra thường xuyên (hệ số 1) và cột điểm thi giữa học phần (hệ số 2).

Ngoài ra, giảng viên trong Bộ môn đều tâm huyết với việc giảng dạy, thường xuyên trao đổi kinh nghiệm trong việc giảng dạy, kiểm tra, đánh giá để áp dụng một cách linh hoạt, hiệu quả.

2.2. Một vài kinh nghiệm kiểm tra, đánh giá việc tự học của sinh viên

2.2.1. Kiểm tra, đánh giá kiến thức đã học (kiểm tra bài cũ)

Cột điểm kiểm tra bài cũ do giảng viên tự đưa ra và thống nhất với lớp ở buổi học đầu tiên của học phần. Cách làm này giúp sinh viên tránh được tình trạng “nước đến chân mới nhảy” khi đối phó với kỳ thi học kỳ. Sau buổi học đầu, giảng viên dặn dò kỹ, thông báo trước với lớp sẽ kiểm tra bài cũ vào buổi học sau và cho sinh viên biết yêu cầu câu hỏi (đã có trong Đề cương chi tiết học phần) để chuẩn bị. Nhưng về tâm lý, đa phần sinh viên lơ là, không chú ý phần dặn dò của giảng viên cuối buổi học, và nêu có lắng nghe thì nhiều em “quên” không thực hiện.

Bắt đầu từ buổi học tuần thứ 2, giảng viên với thái độ kiên quyết, yêu cầu sinh viên trả bài. Mức độ đánh giá sinh viên trong lần kiểm tra đầu tiên này chỉ dừng lại ở yêu cầu nhớ kiến thức cũ nhằm khuấy động không khí, đánh động để các em chú ý nghiêm túc thực hiện yêu cầu của giảng viên từ những buổi sau. Chẳng hạn, yêu cầu sinh viên nêu định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh do Đại hội Đảng lần thứ XI đưa ra hoặc nêu phần phân tích định nghĩa. Qua đó, dần tạo cho sinh viên quen với nếp sinh hoạt là kiểm tra bài đầu giờ. 

Do kiểm tra bài lần đầu, có thể có nhiều sinh viên còn xa lạ với kiểu trả bài như phổ thông trong khi đã học ở bậc cao đẳng, đại học, nên giảng viên sẽ khuyến khích các em xung phong và mời những em giơ tay phát biểu tại chỗ cho cả lớp cùng nghe. Điều này tạo ấn tượng đối với các sinh viên chưa chăm chỉ để các em phấn đấu và các sinh viên khá giỏi sẽ phát huy hơn nữa. Thông thường, lần kiểm tra bài đầu tiên, mỗi lớp chỉ khoảng vài sinh viên giơ tay, đa phần còn lại đều không học bài. Sau khi sinh viên trả lời đúng yêu cầu câu hỏi, giảng viên tuyên bố cộng điểm cho phần trả bài vừa rồi và dặn dò buổi học sau sẽ tiếp tục kiểm tra bài như thế. Tuy nhiên, giảng viên sẽ tạo điều kiện để nhiều sinh viên được trả bài, lấy điểm cộng cho điểm quá trình, bằng cách: gọi tên một vài em (khảng 4-5 sinh viên) trả lời câu hỏi theo yêu cầu giảng viên đưa ra, số sinh viên thuộc bài còn lại sẽ cho xung phong và thường thì sẽ khuyến khích các em bằng cách cho tự chọn trả lời câu hỏi mà các em thuộc nhất.  

Đến buổi học thứ 3, giảng viên sẽ thực hiện việc kiểm tra bài cũ đúng với những gì đã sinh hoạt trước. Do số lượng sinh viên trả bài đông, giảng viên cho các em chuẩn bị giấy viết và di chuyển lên những bàn đầu để làm bài trên giấy, tránh chuyện xem tập, sách chép vào. Tại hầu hết các lớp, đến buổi kiểm tra này, số sinh viên thuộc bài đã tăng lên nhiều. Những sinh viên chưa thuộc bài sẽ thấy đó để phấn đấu cho buổi học sau. Rồi đến buổi học thứ 4 và các buổi sau đó, số sinh viên xung phong đã tăng lên khoảng 2/3 sỉ số lớp học. Các em không xung phong, chưa có điểm cộng lần nào, giảng viên dựa vào đó mà gọi tên, bắt buộc trả bài. Cho nên, việc kiểm tra bài cũ được tiến hành đều đối với cả lớp. Thậm chí, có những lớp, các em xung phong gần như cả lớp, tạo thành một phong trào thi đua trả bài để được cộng điểm. Trong khi gần hết lớp xung phong trả bài, một vài sinh viên còn lại bỗng cảm thấy mình “không giống ai”, kết quả, những buổi học sau các em cũng xung phong. Rất nhiều sinh viên các lớp hầu như buổi kiểm tra nào cũng đều đặn xung phong trả bài.

Sau khi sinh viên làm bài trên giấy, giảng viên thu bài và thông báo buổi học sau mới công bố kết quả trả bài có đạt hay không, vì không phải bài làm nào cũng đạt yêu cầu. Phần trả bài đó giảng viên sẽ về nhà đọc và ghi điểm cộng cho các em.

Có thể nói, việc kiểm tra bài cũ không mới lạ đối với sinh viên bởi các em đã rất quen với việc kiểm tra bài cũ ở các bậc học dưới, nhưng đây là việc mới mẻ đối với bậc học đại học, cao đẳng. Tuy nhiên, sau khi tham khảo, học hỏi ở các đồng nghiệp giàu kinh nghiệm, giảng viên nhận thấy việc kiểm tra bài cũ theo hình thức vừa khuyến khích, vừa bắt buộc đã làm thay đổi thái độ học tập của sinh viên. Dù mỗi buổi học mất khoảng 15 phút để thực hiện, nhưng cách làm này thiết nghĩ là phù hợp với đối tượng người học khi học môn lý luận chính trị. Các em nhận thức được lợi ích của việc làm này đối với bản thân nên chịu khó học bài, vừa được điểm cộng, vừa học thuộc bài dần dần, chuẩn bị cho kỳ thi học kỳ. Tâm lý “ngán” khi học lý luận chính trị cũng giảm.

2.2.2. Kiểm tra, đánh giá phần chuẩn bị bài và phần tự học

Do thời lượng chương trình chỉ có 30 tiết lên lớp, 60 tiết dành cho sinh viên tự học, nên đề cương chi tiết học phần quy định rõ có những phần sinh viên phải tự nghiên cứu, đọc sách để tìm hiểu. Các nội dung tự học được định hướng bằng những câu hỏi cho sẵn. Sinh viên căn cứ vào những câu hỏi này để giải quyết phần tự học. Thông thường, nếu giảng viên không có biện pháp kiểm tra, đánh giá, sinh viên sẽ bỏ qua phần tự học này một cách vô tư với tâm lý tự học nghĩa là không học. Vì vậy, giảng viên phải có cách kiểm tra để đánh giá phần tự học đã giao cho sinh viên.

Sau khi kết thúc buổi học, giảng viên dặn dò, yêu cầu sinh viên về nhà đọc giáo trình, trả lời các câu hỏi tự học vào một quyển tập riêng, buổi học sau giảng viên sẽ kiểm tra. Sinh viên trả lời đầy đủ các câu hỏi sẽ có điểm cộng. Sinh viên không làm sẽ bị điểm trừ và sẽ tiếp tục được gọi để kiểm tra những lần sau. Việc kiểm tra tập tự học của sinh viên được tiến hành trong khi sinh viên đang làm bài trên giấy phần trả bài cũ. Mỗi buổi, giảng viên gọi tên, yêu cầu khoảng 10 sinh viên mang tập lên chấm điểm. Việc làm này không mất nhiều thời gian nhưng tạo cho sinh viên thái độ học tập nghiêm túc đối với môn học.

Yêu cầu đặt ra đối với sinh viên khi thực hiện phần tự học là có đọc giáo trình và trả lời câu hỏi. Sinh viên sẽ có những cách trả lời khác nhau, có khi trả lời sai, hoặc đôi khi là chép của nhau. Giảng viên sẽ có nhận xét, biểu dương những em thực hiện tốt và phê bình những trường hợp chưa tốt. Sau đó, phải có thao tác giải đáp sơ lược các câu hỏi của phần tự học để định hướng cho các em cách trả lời đúng đắn.

Bên cạnh đó, giảng viên còn có thể đánh giá phần chuẩn bị bài của sinh viên qua các câu hỏi vấn đáp, câu hỏi trắc nghiệm lồng ghép vào nội dung của bài học. Với những câu hỏi khó, giảng viên khuyến khích bằng cách cho điểm cộng cho những em trả lời đúng.

2.2.3. Kiểm tra, đánh giá việc tự học qua hoạt động thảo luận nhóm, semina

Thảo luận nhóm là hình thức học phổ biến ngày nay với nhiều lợi ích và phù hợp với người học có trình độ khác nhau. Thảo luận nhóm có thể được triển khai ngay tại lớp học hoặc giao cho sinh viên làm việc nhóm với nhau ngoài giờ lên lớp. Cả hai cách thảo luận này đều là hình thức của tự học. Tuy nhiên, việc tự học qua hoạt động thảo luận nhóm, semina đôi khi chỉ là hình thức, chỉ có 1-2 sinh viên thực sự làm việc, những thành viên khác không tham gia, thụ động, chưa phát huy hết được khả năng của cá nhân qua hình thức học tập này.

Trong giảng dạy, Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh hết sức chú ý rèn luyện kĩ năng cho sinh viên qua hoạt động nhóm. Đề cương chi tiết học phần quy định rõ mỗi chương đều có một tiết dành cho việc thảo luận và có câu hỏi thống nhất trong mỗi chương nội dung cho sinh viên.

Về hình thức thảo luận, thảo luận sau khi học xong nội dung chương hoặc kết hợp giảng với thảo luận theo nội dung của bài là tùy giảng viên hoặc tùy vào đặc điểm nội dung bài của chương đó mà giảng viên sẽ lựa chọn hình thức thảo luận thích hợp. Chẳng hạn, giảng viên sẽ căn cứ nội dung bài học mà linh hoạt lựa chọn: thảo luận để tìm ra nội dung bài hoặc thảo luận để đào sâu nội dung kiến thức vừa tiếp thu.

Ngay từ buổi học đầu tiên, giảng viên phân nhóm cho sinh viên và yêu cầu các em phải ngồi học trên lớp theo nhóm đã phân chia để tiện mỗi khi giảng viên yêu cầu thảo luận tại lớp, tránh mất thời gian di chuyển. Do đặc điểm lớp học lý thuyết, số lượng sinh viên quá đông, có lớp đến gần trăm sinh viên, việc thảo luận nhóm gặp nhiều khó khăn. Giảng viên phải chia rất nhiều nhóm nhỏ, có lớp đến hơn 10 nhóm.

Đối với hình thức thảo luận nhóm, giảng viên sẽ cộng điểm khuyến khích cho những nhóm thường xuyên đi học đầy đủ, xung phong lên bảng trình bày hoặc có nhiều câu trả lời hay và trừ điểm những nhóm không thực hiện đúng yêu cầu của giảng viên hoặc có nhiều thành viên vắng mặt. Việc điểm danh nhóm mỗi buổi sẽ giao cho nhóm trưởng và quy định rõ, bạn nào vắng mặt sẽ không ghi tên vào danh sách nhóm của buổi học hôm đó. Giảng viên sẽ kiểm tra lại qua danh sách đã điểm danh mỗi buổi học.

2.3. Bài học kinh nghiệm:

Sau thời gian áp dụng theo cách kiểm tra, đánh giá trên, giảng viên nhận thấy đa phần sinh viên học tập nghiêm túc, hứng thú nghe giảng bài, chăm chú theo dõi, ghi chép bài; tuân thủ yêu cầu của giảng viên đưa ra trong việc thực hiện thảo luận nhóm ngoài giờ, chịu khó đọc giáo trình, tài liệu, biết cách trình bày ý tưởng của mình; học thuộc bài, gần như cả lớp đều tự giác xung phong để được kiểm tra bài cũ trong mỗi buổi học. 

Điều này chứng tỏ, sinh viên rất ham hiểu biết, nhất là những vấn đề gắn với thực tiễn, ý thức tự học được nâng cao và môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đáp ứng được phần nào nhu cầu hiểu biết của sinh viên. Bài học rút ra để giảng viên và sinh viên có thể thực hiện tốt hơn nữa việc tự học và kiểm tra, đánh giá việc tự học:

* Đối với giảng viên:

+ Cần phải có lòng yêu nghề, tâm huyết với nghề, tinh thần trách nhiệm với công việc, biết suy nghĩ cho sinh viên.

+ Chuẩn bị bài giảng kỹ càng, chắc kiến thức, có phương pháp, diễn đạt tốt,… chắc chắn sẽ “truyền lửa” đến sinh viên để sinh viên hứng thú với môn học, ham học tập.

+ Xác định động cơ học tập rõ ràng, nghiêm túc ngay từ buổi học đầu tiên để sinh viên nâng cao ý thức học tập đối với môn học, không có tâm lý phân biệt môn phụ, môn chính, môn học nào cũng cần thiết và đều có cái hay riêng.

+ Giảng viên phải giới thiệu đầy đủ tài liệu tham khảo liên quan đến nội dung học tập và thảo luận cho sinh viên.

+ Điểm danh sinh viên mỗi buổi học. Trên thực tế, Khoa Lý luận chính trị cũng đã đưa nội dung này vào quy định của đề cương chi tiết học phần của các Bộ môn: sinh viên vắng học 1 buổi không phép bị trừ 1,0 điểm, sinh viên vắng học 1 buổi có phép bị trừ  0,5 điểm.

+ Giảng viên phải quy định rõ ràng, chặt chẽ cách đánh giá cho điểm, bảo đảm tính khách quan, công bằng.  

+ Khuyến khích sinh viên phát biểu, tranh luận, đặt câu hỏi. Giảng viên ghi nhận, đánh giá, cho điểm khi các em phát biểu.

+ Giảng viên tích cực kiểm tra, đánh giá việc tự học của sinh viên. Biện pháp: vừa khuyến khích, vừa bắt buộc, tạo thành phong trào thi đua học tập. (Chẳng hạn, tạo thói quen và không khí sinh động khi kiểm tra bài cũ, bài tập nhóm, bài tập về nhà).

+ Giảng viên linh hoạt đánh giá kết quả học tập của sinh viên bằng cách chia cột điểm kiểm tra thường xuyên (hệ số 1) thành nhiều cột nhỏ để có thể kiểm tra được nhiều lần bằng nhiều hình thức khác nhau, như: kiểm tra bài cũ, kiểm tra nội dung phần tự học, kiểm tra 15 phút bất ngờ để đánh giá khả năng nhận thức, tự luận, cộng điểm thưởng cho sinh viên mỗi lần phát biểu.

+ Tạo không khí học tập thoải mái, hứng thú, làm cho sinh viên cảm thấy mình “được học” chứ không phải “bị học”, đúng với khẩu hiệu “mỗi giờ đến lớp là một giờ vui”.

* Đối với sinh viên:

+ Xác định động cơ học tập rõ ràng, học tập là để tạo tương lai tốt cho chính bản thân mình, từ đó nâng cao ý thức tự giác trong học tập của các em.

+ Sinh viên nắm chắc đề cương chi tiết học phần, dựa vào đó để đọc trước giáo trình, tài liệu và chuẩn bị những câu hỏi thắc mắc.

+ Đọc là một bước tiến hành không thể bỏ qua của quá trình tự học. Do đó, cần bồi dưỡng cho sinh viên phương pháp đọc nhanh và hiệu quả.

+ Quan trọng là phải bồi dưỡng cho sinh viên phương pháp tự học, có một cách là đưa môn học Phương pháp nghiên cứu khoa học vào chương trình.

 

3. KẾT LUẬN

Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn học, có nhiều phương pháp có thể được áp dụng, trong đó, kiểm tra, đánh giá là một khâu quan trọng, nhất là kiểm tra việc tự học của sinh viên. Khi thực hiện việc kiểm tra, đánh giá các mặt như trên, phần việc dành cho giảng viên sẽ tăng lên nhiều, giảng viên sẽ đóng vai trò chủ động, lôi cuốn sinh viên và chấp nhận bỏ ra thêm nhiều thời gian để đánh giá phần làm việc của sinh viên. Tuy nhiên, bù lại với công sức bỏ ra, niềm vui mang lại cho người giảng dạy chính là sinh viên chịu khó, chăm chỉ hơn, ý thức học tập đối với môn học được nâng cao và kết quả điểm quá trình cũng được cải thiện hơn trước rất nhiều.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (Dành cho sinh viên đại học, cao đẳng khối không chuyên ngành Mác-Leenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

 2. Nguyễn Thị Hồng Nam (2003), Tổ chức hoạt động hợp tác trong học tập theo hình thức thảo luận nhóm, Cần Thơ.

3. Trường Đại học Tiền Giang (2012), Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Đổi mới phương pháp dạy - học các học phần Lý luận chính trị theo học chế tín chỉ ở Trường Đại học Tiền Giang.

4. Trường Đại học Tiền Giang (2014), Tài liệu Hội nghị Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo (lần 2).

 

 

 

 

 

 

 

[1] Mục đích: là hướng đến một điều gì hay một công việc nào đó trong nghiên cứu mà người nghiên cứu mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì mục đích khó có thể đo lường hay định lượng. Nói cách khác, mục đích trả lời câu hỏi "nhằm vào việc gì?", hoặc "để phục vụ cho điều gì?".

Mục tiêu: là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà người nghiên cứu sẽ hoàn thành theo kế hoạch đã đặt ra. Mục tiêu có thể đo lường hay định lượng được. Nói cách khác, mục tiêu trả lời câu hỏi “làm cái gì?”.

 

[2] Nguyễn Cảnh Toàn (Chủ biên), Nguyễn Kỳ – Vũ Văn Tảo – Bùi Tường, (1998), “Quá trình dạy – tự học”, NXB Giáo Dục Hà Nội, trang 59.

Khoa Lý luận chính trị